Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Cách mạng Tân Hợi (1911) là cuộc cách mạng dân chủ tư sản, do những người trí thức cấp tiến trong giai cấp tư sản và tiểu tư sản lãnh đạo, đã lật đổ triều đại Mãn Thanh, chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại lâu đời ở Trung Quốc, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển, có ảnh hưởng nhất định đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở một số nước Châu Á.
khoi nghia-vu- xương-cach mạng tân hợi.jpg

Ảnh :Khởi nghĩa Vũ Xương bắt đầu cuộc Cách Mạng Tân Hợi, 1911
I. Nguyên nhân và diễn biến:

Phẫn uất vì thất bại nhục nhã sau các cuộc Chiến tranh Nha phiến (1840 - 1842 và 1857 - 1860), Chiến tranh Thanh - Nhật (1894 - 1895), và nhất là việc liên quân tám nước kéo vào cướp phá Bắc Kinh (1900), mà nhân dân Trung Quốc muốn cải cách thể chế chính trị hoặc phế bỏ nhà Thanh.

Theo suy nghĩ của những người đương thời, thì nhà Thanh là một chính quyền do ngoại tộc (Mãn Châu) làm chủ, vừa hèn yếu thối nát, vừa ngăn trở đất nước phát triển theo đường lối tư bản.

Lúc bấy giờ có Tôn Dật Tiên (còn gọi là Tôn Văn hay Tôn Trung Sơn) hiểu rõ ý nguyện của dân, năm 1894, ông sáng lập Hưng Trung hội tại Hônôlulu (Hawaii) với cương lĩnh "Đánh đuổi giặc Thát (chỉ Mãn Thanh), khôi phục Trung Hoa, lập chính phủ hợp quần".

Theo sử liệu, thì Cách mạng Tân Hợi thành công không phải ngẫu nhiên, mà là kết quả của cuộc vận động cách mạng lâu dài và các cuộc nổi dậy trước đó, mà công đầu là Đồng Minh hội do Tôn Dật Tiên làm Tổng lý.

II. Trước Cách mạng Tân Hợi:
Theo học giả Nguyễn Hiến Lê, thì trước khi Cách mạng Tân Hợi nổ ra, Tôn Dật Tiên và đảng cách mạng của ông đã tổ chức 10 cuộc khởi nghĩa chống Thanh nhưng đều bị thất bại. Điểm lược một vài vụ nổi bật:

Năm 1895, nhân lúc nhân dân cả nước căm giận nhà Thanh ký hiệp ước Mã Quan với Nhật Bản, ngày 26 tháng 10, Tôn Dật Tiên định tổ chức khởi nghĩa ở Quảng Châu. Nhưng kế hoạch bị lộ, các đồng chí của ông bị giam và bị giết hơn 70 người, ông phải trốn sang Nhật Bản, rồi qua Hônôlulu. Đây là cuộc khởi nghĩa lần đầu của ông.

Tháng 11 năm 1899, phong trào Nghĩa Hòa Đoàn bùng nổ, Tôn Dật Tiên cùng với các đồng chí chạy thoát vội trở về nước, tổ chức khởi nghĩa ở Quảng Châu lần thứ hai. Ông cử Trịnh Sĩ Lương đi đánh Huệ Châu (Quảng Đông), Sử Kiên Như đi ném tạc đạn giết Tổng đốc Đức Thọ. Nhưng cả hai việc đều thất bại. Sử Kiên Như tuẫn nạn và nhiều chiến sĩ cách mạng khác lại bị bắt giam và bị giết.

Ngày 18 tháng 9 năm 1905 tại Tôkyô (Nhật Bản), Tôn Dật Tiên cùng Hoàng Hưng chủ trì việc hợp nhất Hưng Trung Hội với hai tổ chức cách mạng khác là Quang Phục hội và Hoa Trung hội. Kể từ đây, đảng vừa hợp nhất có tên là Trung Quốc Đồng Minh hội (gọi tắt là Đồng Minh hội), do Tôn Dật Tiên làm Tổng lý [2].
Năm 1906, hai hội viên của Đồng Minh hội là Lưu Đạo Nhất và Thái Thiệu Nam tổ chức khởi nghĩa ở ba nơi là Bình Hương (Giang Tây), Trương Lăng và Lưu Dương (Hồ Nam), nhưng tất cả đều thất bại.

Mùa thu năm 1907, Đồng Minh hội tổ chức khởi nghĩa ở Khâm Châu thuộc Quảng Đông (nay thuộc Quảng Tây). Chiếm được Phòng Thành, nhưng vì không có tiếp tế, phải rút vào Thập Vạn Đại Sơn. Đến mùa đông năm ấy, quân cách mạng đánh chiếm Trấn Nam Quan, Khâm Châu, Liêm Châu (nay tên là Hợp Phố thuộc Quảng Tây), Thượng Tư (Quảng Tây), nhưng rồi cùng vì không có tiếp tế nên phải rút đi.

Năm 1908, quân cách mạng cùng dân địa phương khởi nghĩa ở Hà Khẩu (Vân Nam). Sau khi đánh thắng một trận lớn, quân và dân cùng tiến lên uy hiếp Mông Tự, nhưng rồi cũng phải rút đi vì không có tiếp tế. Mùa thu năm ấy, chi bộ Đồng Minh hội thành lập ở Hương Cảng (Hồng Kông). Năm 1910, tổ chức này cho người vận động lực lượng tân binh ở Quảng Đông nổi dậy, nhưng bị đàn áp ngay.

Tháng 4 năm 1911, Đồng Minh hội chọn 500 cảm tử quân, hợp với quân địa phương, đánh vào dinh Tổng đốc Quảng Châu. Cuộc đột kích này do Hoàng Hưng và Triệu Thanh chỉ huy, nổ ra ngày 27 tháng 4 năm 1911 (tức ngày 29 tháng 3 năm Tân Hợi). Tuy nhiên, do quân cảm tử và khí giới không đến cùng một lượt, và còn do bị lộ, nên số quân đánh vào dinh Tổng đốc phải tuẫn nạn nhiều. Sau tìm được 72 thi hài đem hợp táng tại Hoàng Hoa Cương ở Quảng Châu, và được người đời gọi là Thất thập nhị liệt sĩ [3]. Đây là lần khởi nghĩa thứ 10 do Đồng Minh hội tổ chức, trước khi nổ ra cuộc khởi nghĩa tự phát ở Vũ Xương.

Cũng trong khoảng thời gian này, việc Thanh đình trao quyền kinh doanh đường sắt Việt-Hán và Xuyên Hán cho Mỹ đã gây thêm một làn sóng căm phẫn trong nhân dân Trung Quốc. Khắp nơi, nổi lên phong trào đòi tẩy chay hàng Mỹ, đòi chính phủ xóa bỏ điều ước đã ký với Mỹ. Thấy người dân chống đối quá, Mỹ đồng ý xóa điều ước với điều kiện Thanh đình phải bồi thường 6. 750.000 đô la. Vừa sợ đế quốc, vừa sợ nhân dân, Thanh đình sai Tổng đốc Lưỡng Hồ là Trương Chi Động vay tiền của Anh để bồi thường cho Mỹ.

Đến ngày 9 tháng 5 năm 1911, Thanh đình ra sắc lệnh “Quốc hữu hóa đường sắt” nhưng thực chất là trao quyền kinh doanh cho bốn nước là Anh, Mỹ, Pháp và Đức. Lập tức lần lượt ở Hồ Nam, Hồ Bắc, Quảng Châu, Tứ Xuyên...nhân dân nổi lên chống đối vì họ cho rằng Thanh đình đã bán rẻ quyền lợi dân tộc. Thanh đình bèn ra lệnh trấn áp phong trào quyết liệt, cấm báo chí đưa tin, cấm bãi thị, bãi khóa, diễn thuyết và cho giải tán các hội đồng bảo vệ đường sắt...Tuy nhiên, bất chấp lệnh trên, bất chấp cả những lời lẽ can ngăn của phái lập hiến, phong trào chống đối vẫn lên cao, nhất là ở Tứ Xuyên.

Ngày 7 tháng 9 năm 1911, Tổng đốc Tứ Xuyên là Triệu Nhĩ Phong phái người đến mời các thủ lĩnh trong hội bảo vệ đường sắt đến dinh thương lượng, nhưng sau đó cho lính bắt tất cả. Thấy điều bạo ngược, hàng vạn người dân Thành Đô (tỉnh lỵ của tỉnh Tứ Xuyên) kéo đến dinh Tổng đốc đòi thả người, nhưng bị Triệu Nhĩ Phong ra lệnh nổ súng làm chết 32 người và làm bị thương nhiều người khác. Căm phẫn tột độ, phong trào bãi khóa, bãi thị lan rộng ra toàn tỉnh Tứ Xuyên, về sau phát triển mạnh thành cuộc khởi nghĩa Thành Đô, buộc Thanh đình phải đem quân từ Hồ Bắc về trấn áp.

III. Cách mạng Tân Hợi:
Cách mạng Tân Hợi chính thức khởi đầu bằng cuộc khởi nghĩa tự phát ở Vũ Xương.
3.1 Khởi nghĩa Vũ Xương:
Vụ Quảng Châu nổ ra hồi tháng 4 năm 1911 đã kể trên, càng làm cho Thanh đình lo ngại. Họ bèn đánh điện cho các tỉnh bảo phải đề phòng nghiêm ngặt. Tổng đốc Hồ Bắc là Thụy Trừng sau đó ra sức lùng bắt được nhiều đảng viên, lại có cả một danh sách nữa, mà trong đó có tên một số đông quân lính ở các doanh [4]. Số quân lính có dự vào lấy làm nguy, nhất là ở Vũ Xương (một quận của thành phố Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc).

Rồi nhân cơ hội Thanh đình điều quân từ Vũ Xương đến Trùng Khánh, đêm 19 tháng 8 năm Tân Hợi (10 tháng 10 năm 1911), đông đảo quân lính ở đây đã phải tấn công liền, không đợi chỉ thị của đảng mà cũng chẳng kịp chuẫn bị. Ngay đêm đó, họ đã làm chủ Vũ Xương (Hồ Bắc), và chỉ hai ngày sau thì chiếm luôn Hán Khẩu và Hán Dương.
Học giả Nguyễn Hiến Lê kể:
...Họ tự xưng là "dân quân", vây đánh dinh Tổng đốc. Tổng đốc tỉnh Hồ Bắc là Thụy Trừng vội đem gia quyến xuống trốn trong một chiến hạm. Thống chế tỉnh này là Trương Bưu cũng đã đào tẩu. Quân nổi dậy không ai cầm đầu, nửa đêm xông vào nhà một viên Đô đốc tên là Lê Nguyên Hồng, dí súng vào người, buộc phải lãnh đạo họ. Ông tính tình vui vẻ, thân mật, hiền từ nên được lòng binh lính. Ông miễn cưỡng theo, còn mọi việc do binh lính quyết định lấy... [5]
.
Cuộc khởi nghĩa Vũ Xương thành công một cách nhanh chóng,
quá sức tưởng tượng của phái cách mạng. Ngay cả Tôn Dật Tiên lúc này đang ở Mỹ và Hoàng Hưng đang trốn ở Hương Cảng cũng lấy làm ngạc nhiên.

Ngày 11 tháng 10, tức ngay khi làm chủ được Vũ Xương, các thủ lĩnh cách mạng cùng với các đại biểu phái lập hiến họp thảo luận việc lập chính phủ mới. Hội nghị đã quyết định đổi quốc hiệu nước là Trung Hoa Dân quốc, cử Lê Nguyên Hồng thuộc phái lập hiến chỉ huy quân chính phủ. Đồng thời kêu gọi toàn quân và toàn dân đánh đổ chính phủ Mãn Thanh, tuyên bố với lãnh sự các nước ở Hán Khẩu là chính phủ Dân quốc sẽ tôn trọng mọi quyền lợi của nước ngoài ở Trung Quốc.

Hưởng ứng cuộc khởi nghĩa Vũ Xương, các tỉnh khác lần lượt giành lấy chính quyền, hoặc tuyên bố độc lập. Như vậy, quân cách mạng trong một thời gian ngắn đã trực tiếp hoặc gián tiếp làm tan rã đế quốc Mãn Thanh rộng lớn. Họ chỉ còn khống chế mấy tỉnh miền Bắc mà số phận của nó cũng rất mong manh. Nhưng về phía cách mạng, một đặc điểm nổi bật lúc bấy giờ là chính quyền Dân quốc ở nhiều địa phương đều bị phái lập hiến nắm giữ, vì họ mạnh hơn.

Khi khởi nghĩa nổ ra ở Vũ Xương, Thanh đình liền sai một tướng Mãn Châu là Ấm Xương đi đánh dẹp, nhưng rồi triệu hồi về mà bổ Viên Thế Khải (sử có khi gọi tắt là Viên) lúc bấy giờ đang dưỡng bệnh ở Hà Nam (trước đây Viên bị Thanh đình nghi kỵ cho nghĩ việc) làm Tổng đốc Hồ-Quảng, dẫn thủy lục quân đi trấn áp.

3.2 Thành lập chính phủ Nam Kinh:

Đầu tháng 11 năm 1911, hầu hết các tỉnh Trung và Nam Trung Quốc đều do quân cách mạng nắm giữ. Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, ngày 15 tháng 11, đại biểu các tỉnh về Thượng Hải họp "Hội nghị đại biểu đô đốc phủ các tỉnh". Nhưng cuộc họp đến ngày 24 tháng 11 phải dời về Vũ Xương. Nơi này bị vây, hội nghị phải họp trong tô giới Anh ở Hán Khẩu. Ngày 2 tháng 12, quân cách mạng chiếm được Nam Kinh, hội nghị liền dời về đây để bầu đại Tổng Thống, lập Chính phủ lâm thời.

Ngày 25 tháng 12, Tôn Dật Tiên từ Mỹ về nước. Sau đó (10 tháng 11 năm Tân Hợi, tức là ngày 29 tháng 12 năm 1911), ộng được đại biểu của 17 tỉnh dự họp bầu làm Đại tổng thống lâm thời (Lê Nguyên Hồng làm phó), và lấy ngày 1 tháng 1 năm 1912 làm ngày khai sinh của chính quyền Trung Hoa Dân quốc.

Được tin, Viên Thế Khải liền tìm mọi cách tấn công vào chính quyền mới. Vừa bị Viên uy hiếp, vừa bị các nước đế quốc thu hết thuế quan (họ không công nhận chính phủ của Tôn Dật Tiên), nên chính phủ Cộng hòa gặp rất nhiều khó khăn. Để chấm dứt cuộc nội chiến, Tôn Dật Tiên đã đề xuất hiệp nghị 5 điều, trong đó có điều khoản là nếu Viên Thế Khải lật đổ được Thanh đình thì sẽ được bầu làm Đại tổng thống.

Viên Thế Khải bằng lòng, bèn mật sai Đoàn Kỳ Thụy hiệp với 40 tướng lãnh khác uy hiếp Hoàng đế nhà Thanh thoái vị. Ngày 12 tháng 2 năm 1912 (năm đầu Dân quốc), Hoàng đế Tuyên Thống (tức Ái-tân-đảng-la Phổ-nghi) phải xuống chiếu thoái vị, để hoàng tộc còn được hưởng một số điều kiện ưu đãi của Chính phủ Dân quốc.

Theo thỏa thuận, ngày 15 tháng 2 năm 1912, Tham nghị viện cử Viên lên làm Lâm thời Đại Tổng thống. Ngày 10 tháng 3 năm đó, Viên Thế Khải tuyên bố nhận chức ở Bắc Kinh. Căn cứ vào quy định của Ước pháp, Viên cử người xuống Nam Kinh tổ chức nội các mới, dùng Đường Thiệu Nghi làm Quốc vụ Tổng lý. Ngày 5 tháng 4,
Tham nghị viện quyết định dời Chính phủ lâm thời lên Bắc Kinh. Cách mạng Tân Hợi đến đây kể như chấm dứt.

IV. Sau cách mạng Tân Hợi:
Sau khi Viên Thế Khải lên làm Đại tổng thống, tuy phái cách mạng không hoàn toàn bị loại bỏ, nhưng những chức vụ chủ chốt trong chính quyền đều vào tay phe của Viên. Theo sử liệu thì đây là chính quyền mà ngoài thì treo chiêu bài “Trung Hoa Dân quốc”, nhưng bên trong là phái của Viên cấu kết với đế quốc chống lại phái cách mạng.

Tháng 8 năm đó, với ý định thông qua Quốc hội, sẽ hạn chế quyền lực của Viên Thế Khải, Đồng Minh hội cải tổ thành Quốc dân đảng. Trước tình trạng Quốc dân đảng chiếm đa số ghế trong Quốc hội, để đối phó, Viên Thế Khải bèn gấp rút cho bổ sung quân, đồng thời không đợi Quốc hội thông qua, Viên ký giấy vay Ngân hàng đoàn (đây là ngân hàng 5 nước, gồm Anh, Pháp, Đức, Nhật, Nga) một số tiền 25 triệu bảng Anh để tiến hành cuộc đối đầu mới. Số tiền này phải trả trong 47 năm bằng thuế muối.

Quốc dân đảng phản đối kịch liệt.
Các tướng lĩnh thuộc đảng này bèn khởi binh chống lại, nhưng đều thất bại vì ít quân và vì Viên Thế Khải đã bố trí lực lượng từ trước. Cuộc xung đột này chỉ kéo dài không đầy hai tháng. Sau đó, Viên Thế Khải bắt Quốc hội thừa nhận ông là Đại tổng thống chính thức (Lê Nguyên Hồng làm phó). Và để bảo đảm địa vị của mình, tháng 11 năm 1913, Viên ra lệnh trục xuất các nghị viên thuộc Quốc dân đảng ra khỏi Quốc hội.

Đầu năm 1914, Viên Thế Khải giải tán luôn Quốc hội. Không lâu sau, ông hủy bỏ luôn Ước pháp lâm thời rồi cho xây dựng một nền thống trị "độc tài của tập đoàn quan liêu, quân phiệt và đại địa chủ tư bản".

V. Nhận xét sơ lược:
Như đã giới thiệu ở phần mở đầu, Cách mạng Tân Hợi là cuộc cách mạng dân chủ tư sản, do những người trí thức cấp tiến trong giai cấp tư sản và tiểu tư sản lãnh đạo, đã lật đổ triều đại Mãn Thanh, chấm dứt chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại lâu đời ở Trung Quốc, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển, có ảnh hưởng nhất định đối với cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở một số nước Châu Á (trong đó có Việt Nam).
Song, cuộc cách mạng này bộc lộ một số mặt hạn chế, đó là:
-Không giải quyết được vấn đề ruộng đất cho nông dân, một trong những vấn đề cơ bản của cách mạng. Chính vì vậy, họ không động viên được đông đảo quần chúng nông dân tham gia.
-Không thủ tiêu thực sự giai cấp phong kiến, mà chỉ thỏa hiệp. Việc đem toàn bộ chính quyền cách mạng giao cho Lê Nguyên Hồng, và sau nữa là Viên Thế Khải, là một minh chứng.
-Không dám đụng chạm đến các nước đế quốc xâm lược, tức là không dám đấu tranh giành lại quyền lợi của dân tộc. Để rồi họ câu kết với Viên, giúp Viên củng cố thế lực, quay lại đoạt công và chống phá cách mạng.
Ngoài ra, các hạt nhân lãnh đạo Đồng Minh hội hãy còn non yếu về mặt đường lối và tổ chức, nên sự phối hợp hãy còn lỏng lẻo, nhiều khi tư tưởng cũng không đồng nhất.

Chú thích:
[1] Theo Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc (Tập 3), tr. 10-11.
[2] Đồng Minh hội dựa trên học thuyết Tam dân của Tôn Dật Diên là "dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc", với mục tiêu đấu tranh là "Đánh đuổi giặc Thát, khôi phục Trung Hoa, thành lập Dân quốc và bình quân địa quyền" (có nghĩa là thực hiện quyền bình đẳng về ruộng đất). Để tuyên truyền đường lối của đảng, Tôn Dật Tiên cho ra tờ Dân báo.
[3] Năm 1924, một nhà hoạt động cách mạng Việt Nam tên là Phạm Hồng Thái, sau khi ám sát hụt Toàn quyền Merlin, nhảy xuống sông tự tử, cũng được chôn ở đó.
[4] Nhờ Văn học xã (lập năm 1907) và Cộng tiến hội (lập đầu năm 1911, hai đoàn thể này đều do những phần tử của Đồng Minh hội tổ chức) vận động từ trước, mà số quân lính này đã ngầm theo cách mạng (Lịch sử thế giới cận đại, tr. 364).
[5] Nguyễn Hiến Lê, sách đã dẫn, tr. 13.

Sách tham khảo:
-Nguyễn Hiến Lê, Sử Trung Quốc (Tập 2 và Tập 3 in chung). Nhà xuất bản Văn hóa, 1997.
-Nguyễn Hiến Lê, Lịch sử thế giới (Tập II, chương Cách mạng Tân Hợi). Nhà xuất bản Văn hóa, 1995.
-Phan Khoang, Trung Quốc sử lược. Văn sử học xuất bản, Sài Gòn, 1970.
-Vũ Dương Ninh - Nguyễn Văn Hồng, Lịch sử thế giới cận đại (chương viết về Trung Quốc). Nhà xuất bản Giáo dục, 2008.
-Phổ Nghi, Nửa đời đã qua (hồi ký). Nhà xuất bản Thanh Niên, 2009.
-Nhiều tác giả (Phan Ngọc Liên chủ biên), Lịch sử 11 (nâng cao). Nhà xuất bản Giáo dục, 2007.
 
Sửa lần cuối:

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Trang DimpleTriều đình nhà Thanh dùng lại Viên Thế Khải, muốn Viên trung thành ra sức dẹp tan đảng nghịch. Viên đối với triều đình thì đòi hỏi, đối với cách mệnh sử dụng biện pháp vừa cương vừa nhu. Viên biết rằng uy tín nhà Thanh đã hết, vận mệnh không thể vãn hồi ; cho dù đánh lấy được Vũ Xương, với thực lực dưới tay vài vạn quân, cũng không có khả năng đánh dẹp hết cả nước. Nếu cứ để dằng dai, tình hình biến chuyển khó có thể ứng phó ; bởi vậy tiến thoái lưỡng lự. Khi Viên mang quân xuống miền nam, từng tâm sự với người thân rằng “ Lực lượng ta dù mạnh cũng không ngược đãi cách mệnh ” ; người thân khuyên rằng “ Phàm việc nên để lại chút tình ”.

Lúc bấy giờ khí thế cách mệnh dâng cao, Viên cần ra uy để làm bớt nhuệ khí. Cuối tháng 10 quân Viên thắng, đầu tháng 11 lấy được Hán Khẩu [Hankou, Hồ Bắc]. Viên cho rằng quân cách mệnh đã khống chế, bèn sai sứ giả đem thư đến xin bàn hoà. Đảng cách mệnh hiểu rõ sự mâu thuẫn giữa Viên và triều Thanh, cùng dã tâm của Viên, bèn thừa dịp đem điều lợi hại ra lay động, khuyên cùng chung sức phản Thanh, bảo rằng “ Quân của chúng tôi thanh thế ngày một lớn, còn Chấp sự thì chức tước mỗi ngày một cao. Giả sử quân Hồ Bắc bị Mãn Thanh khuất phục, thì chỉ trong một vài ngày sẽ lâm vào tình trạng ‘Chim hết, bẻ cung ; thỏ chết, chó bị làm thịt’. Chấp sự công cao bị chúa hiềm nghi, lúc bấy giờ muốn trở về sống yên tại Chương Đức quê nhà, cũng không được nữa. Long Dụ còn sống, thì chuyện năm Mậu Tuất [1898] 3 sẽ không bao giờ quên… Đáng hiểu điều nhân thì không nhường cho ai, thấy nghĩa phải dõng mạnh làm, không thể khác được ”. Lời nói động vào gan ruột, thấy được tâm bệnh của Viên ; tuy nhiên lúc bấy giờ chưa nắm được toàn cuộc, nên Viên chưa vội hành động, cần phải đợi thời cơ chin muồi, lấy được chính quyền nhà Thanh một cách thuận lợi, lúc đó mới chắc giành được chức Tổng thống vào tay.

Ngày 13/11 Viên từ Hồ Bắc đến Bắc Kinh, ngày 16 thành lập nội các. Trước kia Quân cơ đại thần, hoặc Tổng lý nội các mỗi tháng vào cung triều kiến một lần, nay huỷ bỏ. Các nha môn có việc muốn tâu thông qua nội các liệu biện, muốn xin chiếu chỉ do nội các thay mặt tâu lên ; nói một cách khác mọi việc chính trị đều tập trung vào Viên, do Viên quyết định. Còn về quân vụ, quân hải lục tại Hồ Bắc do Viên trực tiếp chỉ huy ; sau khi Viên đến Bắc Kinh lại nắm giữ binh quyền tại kinh kỳ, đệ tam quân, cấm vệ quân trước kia dưới quyền Tái Đào nay do Phùng Quốc Chương tiếp tục chỉ huy, 1 trấn mới biên chế cải thành quân cận vệ.

Sau khi Hán khẩu thất thủ, quân cách mệnh rút về Hán Dương. Lúc bấy giờ Hoàng Hưng đến Vũ Xương giữ chức Tổng tư lệnh, dưới quyền có quân Hồ Bắc cùng viện quân Hồ Nam. Vào ngày 17/11 Hoàng Hưng điều 8 000 quân phản công ; bị hơn 1 vạn quân của Phùng Quốc Chương đánh bại. Rồi đánh tiếp trong 6 ngày ; cuối cùng vì vũ khí không tốt, quân thiếu huấn luyện, nên ngày 27 mất tiếp Hán Dương, Hoàng Hưng trở về Thượng Hải. Phùng Quốc Chương định thừa thắng đánh Vũ Xương, Viên đích thân điện ra lệnh dừng ; lại điện cho Lê Nguyên Hồng đề nghị đình chiến, giao cho Phùng Quốc Chương ở gần, tìm cách thương lượng. Đoàn Kỳ Thuỵ, mới đến nhậm chức Tổng đốc Hồ Bắc, cũng đề nghị hưu chiến. Mưu sĩ của Viên là Vương Tích Đồng cũng bảo rằng “ Khí lực của cách mệnh khắp cả nước, nếu lấy binh lực để đàn áp, mối hoạn sẽ dấy lên ; đó không phải là kế hay. Vả lại Đại thần chuyên chính, lập công không ai theo kịp, chỉ có hai con đường : thứ nhất, như Nhạc Phi, thân chết mà nước nguy ; thứ hai, như Tào Tháo, bão táp không dung cả vua ; cả hai đường, nếu không phải là vua giết bầy tôi, thì cũng là bầy tôi giết vua; Tướng công nên cư xử theo đường nào ? ” lời khuyên khiến Viên càng thêm rõ đường đi. Một người bạn cũ của Viên là Công sứ Anh John Jordan [Chu Nhĩ Điển], trước kia cùng Viên làm việc tại Triều Tiên, năm 1906 John làm Công sứ tại Trung Quốc, cũng khuyên Viên nên chấm dứt hành động quân sự và thu xếp để Lãnh sự Anh tại Hán Khẩu H. Goffe [Cát Phúc] giúp điều đình. Quân cách mệnh tại Vũ Xương nguy trong sớm tối, nên chấp nhận theo lời đề nghị. Ngày 21 hiệp nghị thành lập, từ đó trở về sau không có chiến tranh tại Vũ Xương.

Vào năm Canh Tý [1900] trong khi loạn Nghĩa Hoà đoàn dấy lên ở kinh thành, riêng tại Sơn Đông Viên Thế Khải thi thố, được các nước Tây phương khen. Đến khi giữ chức Bắc dương đại thần, cùng Thượng thư ngoại vụ ; đối nội thi hành chính sách mới, đối ngoại giao hảo tốt với Anh, Mỹ ; tiếng tăm nổi lên. Sau khi Viên bị bãi truất, uy tín nhà Thanh xuống dốc ; Anh, Mỹ không còn hy vọng gì ở nhà Thanh, nhưng không ưa cách mệnh đắc thế, nên muốn Viên quay lại nắm chính quyền. Sau cuộc nổi dậy tại Vũ Xương, Công sứ Mỹ W. J. Calhoun [Gia Lạc Hằng] tại hội nghị Công sứ đoàn, tuyên bố rằng chỉ có Viên mới bình loạn được. Ngoại trừ Công sứ Nhật Bản Y Tập Viện Nhan Cát, các viên Công sứ khác đều đồng ý, đó là một trong những lý do tại sao Dịch Khuông yêu cầu Tái Phong nên dùng lại Viên Thế Khải. Trong ngày ban bố dụ cử Viên làm Tổng đốc Hồ Quảng, Công sứ Anh John Jordan điện cho Bộ trưởng ngoại giao E. Grey [Cát Lôi] rằng việc bổ nhiệm này có thể bảo đảm sự trung thành của quân Bắc dương, tăng gia lực lượng cho chính phủ Thanh xử lý nguy cơ. Hai ngày sau, Đại Lục báo của người Mỹ tại Thượng Hải phát hành bài xã luận nội dung triều Thanh giao binh quyền cho Viên Thế Khải cũng chưa đủ, trừ phi giao cho Viên tham dự quốc vụ, thì triều đình Thanh mới được tín nhiệm từ trong và ngoài nước. Ngày 28/10 đại biểu ngân hàng Mỹ trú tại Bắc Kinh W. Straight [Đái Đức] nhận định rằng nếu như triều Thanh giao cho Viên quyền lực tổ chức nội các, thì quân phía nam nhất định sẽ thất bại. Sau đó 4 ngày, Viên được chỉ định làm Tổng lý nội các ; John Jordan liên tiếp điện cho Ngoại trưởng E. Grey rằng việc đề cử này có tác dụng an định nhân tâm, Bắc Kinh có triệu chứng chấn tác.

Anh, Mỹ vì lợi ích kinh tế, muốn Trung Quốc yên ổn ; riêng Nhật đối với Trung Quốc tương phản, Trung Quốc càng nhiễu loạn càng có lợi cho Nhật. Ngày 16/10 Ngoại trưởng Nhật Bản Nội Điền Khang Tai Điện lệnh cho Y Tập Viện ngỏ lời viện trợ vũ khí cho triều Thanh. Ngày 24 tại Nhật, nội các Tây Viên Tự Công Vọng quyết định chính sách vĩnh viễn duy trì mọi quyền lợi Nhật tại Trung Quốc đặc biệt Đông Tam Tỉnh ; bảo hộ chính quyền Thanh, ngăn cản quân cách mệnh tiến lên phía bắc. Y Tập Viện muốn chia cắt Trung Quốc thành ba : Hoa Bắc, Hoa Trung, Hoa Nam ; triều Thanh chiếm Hoa Bắc, vĩnh viễn đối đầu với người Hán, lại yêu cầu John Jordan khuyên triều Thanh thực hiện quân chủ lập hiến. John Jordan thấy được thâm ý, lại sợ Trung Quốc bị chia cắt bất lợi cho người Anh, nên đáp rằng chính thể tại Trung Quốc cần để cho dân nước này tự quyết. Ngày 15/11 Ngoại trưởng Anh E. Grey gửi điện cho biết chính phủ Anh hữu hảo kính trọng Viên, hy vọng Trung Quốc có một chính phủ mạnh có thể đối ngoại công chính, đối nội duy trì trật tự ; sau khi cách mệnh, mậu dịch tại Hoa có hoàn cảnh thuận lợi, chính phủ Anh sẽ viện trợ ngoại giao, ngân hàng Anh, Mỹ, Đức, Pháp cũng viện trợ về tài chính. John Jordan căn cứ vào đó trình bày cho Viên, khẳng định nước Anh sẽ chi trì chính phủ do Viên lãnh đạo.

Nhắm giúp cho quyền lực nội các của Viên lớn mạnh thêm, ngày 22/11 Công sứ đoàn y theo chủ trương của Công sứ Mỹ W. J. Calhoun tiếp tục hành động ; giao cho John Jordan bàn bạc với Viên. Sau đó John gặp Dịch Khuông bảo rằng sở dĩ cách mệnh nổi lên do nền chính trị không tốt, chính trị không tốt do Giám quốc Tái Phong thi thố sai lầm ; triều Thanh muốn được ngoại quốc ủng hộ, Tái Phong cần phải từ bỏ chức Nhiếp chính vương ; kế hoạch này cũng còn do Đường Thiệu Nghi qua lại vận động từ bên trong. Ngày 5/12 Ngoại trưởng E. Grey một mặt thông báo cho Công sứ Nhật tại Luân Đôn, một mặt sai John Jordan bàn bạc với Y Tập Viện hợp tác nhắm áp lực Tái Phong rút lui. Ngày 6/1 Long Dụ Thái hậu chuẩn cho Tái Phong thoái chức, từ nay việc hành chính và dùng người đều do Tổng lý nội các đảm trách. Vương Tích Đồng bảo rằng việc Tái Phong rời chức, chính quyền quy vào nội các, do “ Công sứ Anh Chu Nhĩ Điển giúp Viên Thế Khải nên thành công ”.

Vì vấn đề chia cắt Trung Quốc, Nhật Bản cũng muốn tranh thủ Viên Thế Khải. Ngày 18/11 sau khi nội các của Viên thành lập được 3 ngày Y Tập Viện biểu thị Nhật Bản sẽ tương trợ ; Viên cũng tỏ lời trung thành với triều Thanh. Nhật Bản lại bàn với nước Anh hợp lực đốc thúc Trung Quốc thành nước quân chủ lập hiến ; Anh tuy miệng nói tán thành, nhưng không muốn can thiệp vào việc nội chính. Sau khi đình chiến tại Vũ Hán, Y Tập Viện lo rằng Viên sẽ thoả hiệp với cách mệnh, lại chủ trương giúp nam phương chống lại bắc phương. Sau khi Viên và quân cách mệnh bắt đầu hoà nghị, Ngoại trưởng Nhật Nội Điền đề nghị với Anh, Mỹ bảo tồn triều Thanh ; lại sai Y Tập Viện cảnh cáo Viên Thế Khải không thừa nhận đổi sang cộng hoà ; một mặt sai Đầu Sơn Mãn, Khuyển Dưỡng Nghị thông tri cho Tôn Trung Sơn phản đối chủ trương cách mệnh, sẽ không tiếc để ủng hộ Thanh triều ; nhưng cuối cùng tình hình quốc tế không cho phép, nên không dám ngang nhiên thực hành.
 

DiễnđànKiếnthức .COM

  • Diễn đàn Cryptocoin & Đời sống cập nhật, chia sẻ kiến thức Blockchain và các dự án Cryptocoin thú vị, không cung cấp bất kỳ lời khuyên đầu tư nào. .
Chat
Đăng nhập để sử dụng ChatBox
  1. L @ Lucky Crypto:
    Shoutbox has been pruned!

Trang cá nhân

Chúc mừng năm mới 2022! Đầu tư, may mắn, hanh thông :) ☆☆☆☆☆
Giá BTC như hiện tại có nên đầu tư?
Động lực tăng không còn, BTC sụp giảm lớn

Mọi hành động bán hay mua hiện thời đều quá mạo hiểm.
Screenshot_20211204-151800_TabTrader.jpg

Thành viên trực tuyến

Không có thành viên trực tuyến.

Sinh Nhật

Top