Hot nhất trong tháng

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Top Poster Of Month
31/10/12
5,082
323
83
27

Việc Pháp xâm lược nước ta là một tất yếu của lịch sử nhưng việc để nước ta rơi vào tay Pháp thuộc về trách nhiệm của nhà Nguyễn. Nhà nguyễn đã bạc nhược hèn yếu đặt quyền lợi dòng họ lên trên quyền lợi của dân tộc để nước ta rơi vào tay của thực dân Pháp. Điều đó thể hiện rất rõ ở mỗi giai đoạn trong quá trình Pháp đánh chiếm Việt Nam :


* Giai đoạn 1: 1858 ->1862.

+ Bước đầu, khi pháp xâm lược, triều đình lãnh đạo, tổ chức cho nhân dân kháng chiến nhưng đối phó theo kiểu bị động – phòng ngự.

- 31.8.1858 khi Pháp nổ súng xâm lược Đà Nẵng, triều đình đã cử 2000 quân cùng Nguyễn Tri Phương làm tổng chỉ huy mặt trận kéo đến Đà Nẵng. Cùng với nhân dân, quân triều đình đắp thành luỹ, thực hiện “Vườn không nhà trống”, bao vây, tiêu hao dần lực lượng sinh lực địch suốt trong 5 tháng, làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của chúng.

- 2.1859, Khi Pháp kéo quân vào Gia Định, chúng gặp nhiều khó khăn – phải rút bớt quân để chi viện cho các chiến trường Châu Âu và Trung Quốc (số còn lại chưa đến 1000 quân dàn mỏng trên chiến tuyến dài trên 10 km) – Nguyễn Tri Phương không tổ chức tiêu diệt mà rút về phòng ngự và xây dựng đại đồn Chí Hòa (ngăn chặn địch).

=> Triều đình đã bỏ mất thời cơ quan trọng. Sau đó Pháp tăng viện binh, tăng lực lượng lần lượt chiếm: Định Tường, Biên Hòa Vĩnh Long vào đầu năm 1861.

* Giai đoạn 2: 1862 ->1884.

Nhà Nguyễn có tư tưởng thủ để hoà, vứt bỏ ngọn cờ chống Pháp, nhượng bộ từng bước rồi đi đến đầu hàng.

- 1862 khi mất 3 tỉnh miền Đông và 1 tỉnh miền Tây Nam Kì, triều đình Nguyễn không tấn công lấy lại những vùng đất này- sợ Pháp tấn công tiếp -> ký hiệp ước Nhâm Tuất (5.6.1862) với các điều khoản nặng nề.

+ Thừa nhận quyền cai quản của Pháp ở 3 tỉnh miền Đông Nam kỳ và đảo Côn Lôn.

+ Mở 3 cửa biển cho Pháp vào buôn bán.

+ Cho người Pháp và người Tây Ban Nha tự do truyền đạo.

+ Bồi thường chiến phí cho Pháp (288 vạn lạng Bạc).

+ Pháp sẽ trả lại thành Vĩnh Long khi nào triều đình buộc nhân dân ngừng K/C.

=> Đây là văn kiện bán nước đầu tiên của nhà Nguyễn.

Sau đó triều đình càng đi sâu vào con đường đối lập với nhân dân: một mặt đàn áp phong trào của nhân dân ở Bắc-Trung Kì, mặt khác ngăn cản phong trào đấu tranh ở Nam Kì và chủ trương thương lượng với Pháp nhằm đòi lại 3 tỉnh miền Đông nhưng thất bại -> để cho Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây trong 5 ngày mà không mất 1 viên đạn.

- Sau khi 6 tỉnh Nam Kì đã mất, Nhà Nguyễn vẫn không tỉnh ngộ trước âm mưu xâm lược của thực dân Pháp, vẫn tin vào thương thuyết để cho Pháp ra Bắc Kì giải quyết vụ Đuy-puy quấy rối, thực chất đã tạo điều kiện cho Pháp đã được ra Bắc Kì để xâm lược.

- 1873 Pháp đánh chiếm Hà Nội và một số tỉnh Bắc Kì (lần 1) nhà Nguyễn hoang mang hoảng sợ. Bất chấp thái độ của triều đình, nhân dân các tỉnh miền Bắc tự kháng chiến & làm nên chiến thắng Cầu Giấy lần 1, giết chết Gac-ni-ê ->làm cho Pháp hoang mang, nhà Nguyễn không nhân cơ hội này đánh Pháp mà còn ký tiếp hiệp ước Giáp Tuất (15.3.1873): thừa nhận chủ quyền của Pháp ở 6 tỉnh Nam Kì -> với hiệp ước này, Việt Nam mất 1 phần quan trọng chủ quyền, lãnh thổ, ngoại giao, thương mại…

- 1882 Pháp đưa quân ra xâm lược Bắc Kì lần II, triều đình hoang mang, khiếp sợ sang cầu cứu Nhà Thanh -> Nhà Thanh câu kết với Pháp cùng nhau chia quyền lợi.

Nhân dân miền Bắc tiếp tục kháng chiến làm nên trận Cầu Giấy lần II (tướng Ri-vi-e bị giết) quân Pháp hoang mang, dao động. Lúc đó vua Tự Đức chết, triều đình lục đục, Pháp chớp thời cơ đánh chiếm cửa Thuận An, uy hiếp nhà Nguyễn, triều điình hoảng sợ ký Hiệp ước Hác-măng (Quý Mùi: 25.8.1883), sau đó là hiệp ước Pa-tơ-nốt (6.6.1884) với nội dung: Thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp ở Bắc- Trung Kì.

-> Triều đình Nguyễn đầu hàng hoàn toàn TD Pháp, nhà nước phong kiến Việt Nam đã hoàn toàn sụp đổ, thay vào đó là chế độ “thuộc địa nửa PK”.

=> Nhận xét: Quân Pháp mạnh hơn ta về Thế và Lực, nhưng ta mạnh hơn Pháp về tinh thần. Nếu nhà Nguyễn phát huy được những yếu tố này, biết đoàn kết toàn dân, biết Duy tân đất nước thì chắc chắn có thể ta sẽ không bị mất nước.

* So sánh: Trong lịch sử các cuộc kháng chiến trước đó đã chứng minh điều này:

VD: Nhà Lý chống Tống, Nhà Lê chống Minh Nhà Trần chống Nguyên Mông: quân Nguyên Mông rất mạnh, “đi đến đâu cỏ lụi đến đó” nhưng Nhà Trần đã đề ra được đường lối lãnh đạo đúng đắn, biết phát huy sức mạnh dân tộc, dù chỉ bằng vũ khí thô sơ đã đánh tan quân xâm lược.

- Thực tế, trong thời kỳ này cũng có nhiều nhà yêu nước đã đưa ra đề nghị cải cách nhằm Canh Tân đất nước (Nguyễn Trường Tộ) nhưng nhà Nguyễn không chấp nhận. => Vì vậy việc Pháp xâm lược ta vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX là điều tất yếu. Đứng trước nạn ngoại xâm, nhà Nguyễn đã không chuẩn bị, không động viên nhân dân kháng chiến, không phát huy được sức mạnh quần chúng đánh giặc mà ngập ngừng trong kháng chiến rồi đầu hàng hoàn toàn Thực dân Pháp xâm lược. Nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệm khi để nước ta rơi vào tay Pháp ở nửa cuối thế kỉ XIX.

Diễn đàn kiến thức vui học mỗi ngày
 

Bài Trước

Quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp.

Bài Tiếp

Tại sao Pháp chọn Gia Định là điểm tấn công sau Đà Nẵng ???

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Top Poster Of Month
31/10/12
5,082
323
83
27
Cơ sở đầu hàng của triều Nguyễn

- Nhà Nguyễn phòng thủ bị động về quân sự:

+ Chính trị: không ổn định (có tới 500 cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình).

+ Kinh tế: Không phát triển do nông nhgiệp không được trú trọng.

+ Quốc phòng: Quân đội rối loạn, không có khả năng chống xâm lược.

+ Xã hội: Đời sống nhân dân cực khổ do tham nhũng của Vua, quan, thiên tai, mất mùa, đói kém …

- Nhà Nguyễn nắm ngọn cờ dân tộc trực tiếp chống Pháp nhưng lại hèn nhát, đặt quyền lợi giai cấp, dòng họ lên trên quyền lợi dân tộc, sợ mất ngai vàng, “sợ dân hơn sợ giặc”…

- Nhà Nguyễn không động viên được sức mạnh toàn dân, không đoàn kết được các dân tộc trong kháng chiến, thụ động đầu hàng, để mất nước dễ dàng.
 

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Top Poster Of Month
31/10/12
5,082
323
83
27
Sự thất bại của triều Nguyễn đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá mà trước hết về phân hoá và nhận định đúng kẻ thù. Bài học này đã được chứng minh trong thực tế kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta sau này mà hiệp định sơ bộ (6/3/1946) và tạm ước (14/9/1946) là minh chứng cho thắng lợi đó. Bài học kinh nghiệm đắt giá hơn là bài học về đoàn kết và đại đoàn kết đã được lịch sử đúc rút qua nhiều biến cố trọng đại của dân tộc nhất là trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Tư tưởng đại đoàn kết đó đã được Hồ Chí Minh nối tiếp, vận dụng sáng tạo, linh hoạt và phát triển trên tầm cao mới, Người từng viết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công. Đó là những di sản quý giá đối với công cuộc xây dựng và phát triển nhà nước ta hiện nay.
 

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Top Poster Of Month
31/10/12
5,082
323
83
27
THÁI ĐỘ, TRÁCH NHIỆM CỦA TRIỀU NGUYỄN TRONG VIỆC ĐỂ NƯỚC TA RƠI VÀO TAY THỰC DÂN PHÁP CUỐI THỂ KỶ XIX


1 Thái độ

1.1. Khi Pháp nổ súng mở đầu xâm lược nước ta 1-9-1858


Với âm mưu xâm lược Việt Nam đã có từ trước, và thực dân Pháp xúc tiến mạnh mẽ việc xâm lược nước ta từ giữa thế kỉ XIX.

Vào ngày 1 tháng 9 năm 1858, thực dân Pháp đã tấn công vào cửa biển Đà Nẵng của nước ta, sở dĩ thực dân Pháp chọn Đà Nẵng là nơi tấn công đầu tiên vì Đà Nẵng có một vị trí quân sự quan trọng, hải cảng rộng và sâu, thuận tiện cho tàu chiến triển khai. Hơn nữa theo cách nhìn của giới quân sự Pháp, Đà Nẵng là cổ họng của Huế, chỉ cách Huế 100km về phía nam, nếu chiếm được Đà Nẵng, người Pháp có khả năng chiếm ngay kinh thành Huế, sớm kết thúc chiến tranh.

Giới quân sự Pháp cũng được lời hứa hẹn rằng, Giám mục Peloranh đã hoạch định kế hoạch lôi kéo giáo dân vùng ven biển Đà Nẵng nổi dậy, phối hợp với hải quân Pháp khi vào trận. Nhưng sự thực, điều này đã không xảy ra.

VIỆC Đà Nẵng bị tấn công không hề bất ngờ với triều đình. Sách Dương sự thủy mạt đã ghi rằng, từ năm 1857, nhiều bản điều trần đã dâng lên Tự Đức đề nghị triều đình cho tăng cường phòng thủ cho hải cảng này. Theo kế hoạch đó, trên sông Đà Nẵng và bán đảo Sơn Trà được đắp thêm hai đồn lũy kiên cố, đèo Hải Vân cũng được xây thêm các đồn phòng thủ, có sẵn đá hộc chặn giặc. Quân số trên các đồn chính ở Đà Nẵng có lúc lên tới gần 5000, trang bị thêm đại bác mới…

Rạng sáng ngày 1 tháng 9 năm 1858, không chờ quân triều đình trả lời tối hậu thư liên quân Pháp – Tây Ban Nha đã nổ súng vào bán đảo Sơn Trà. Trước tình hình đó, Tự Đức đã lập tức cách chức Tổng đốc Trần Hoàng và Hồ Đức, cử danh tướng Nguyễn Tri Phương làm tổng đốc Quảng Nam cùng Chu Phúc Minh ra Đà Nẵng chặn giặc. Nhưng ông không chủ trương tấn công tiêu diệt giặc mà ông đã chủ trương bao vây giặc bằng cách xây dựng tuyến phòng thủ từ Hải Châu tới Thách Giản dài 4km nhằm vây chặt Pháp không cho chúng đánh rộng ra. Mặt dù chiến thuật này không độc đáo nhưng cũng làm cho quân Pháp bị giam chân trong 5 tháng liền, bị tiêu hao, bị dịch bệnh hoành hành ( 200 tên chết trong vòng một tháng), khả năng được tiếp ứng từ đất liền hoàn toàn không có.

Trong tình trạng khó xử đó, R. Giơnuiy quyết định chuyến hướng, chỉ để lại một lực lượng nhỏ ở bán đảo Sơn Trà, còn đại quân sẽ tiến vào Nam Kì mà đầu tiên là thành Gia Định, sau nhiều ngày công phá các pháo đài Phúc Thắng, Lương Thiện,… có nhiệm vụ bảo vệ thành. Đến trưa ngày 17 thực dân Pháp đã chiếm được thành Gia Định. Nhưng cũng như ở Đà Nẵng thực dân Pháp không đủ sức bảo vệ thành, tướng Giơnuiy đã ra lệnh đốt thành và đưa quân xuống đóng dưới tàu chiến đậu trên sông để tránh quân ta phục kích.

Đến tháng 02 năm 1859, Đô đốc Pagio được cử thay Gionuiy, nước Pháp lại đang sa lầy ở Xyri, quân Pháp đành phải rút khỏi Đà Nẵng và Đà Nẵng được giải phóng, trong khi đó cơ hội để hất cẳng Pháp khỏi Gia Định cũng rất là lớn như quân Pháp chỉ có 1000 tên nhưng nằm rải rác trên một tuyến dài 10km. Nhưng tư tưởng sợ giặc, “ chủ hòa” bắt đầu lan ra làm phân tán lòng người. Cũng chính tư tưởng này đến ngày 23 tháng 03 năm 1862 ta bị mất thành Vĩnh Long.

Như vậy, chúng ta có thể thấy được trước sức tấn công ồ ạt của Pháp, ngay từ đầu, giai cấp phong kiến cầm quyền có trách nhiệm bảo vệ độc lập dân tộc lại tỏ ra do dự thiếu quyết đoán và bất lực, trong nội bộ triều đình đã sớm có sự phân hóa sâu sắc: Phái chủ chiến và phái chủ hòa.

Còn đứng trên lập trường giai cấp phong kiến thống trị, hai phái trên lại có cách giải quyết mâu thuẫn dân tộc khác nhau. Phái chủ chiến muốn dựa vào phong kiến Trung Quốc để đánh đuổi bọn cướp nước xa lạ mà họ gọi là bạch quỷ ( quỷ trắng ) hay dương quỷ ( quỷ ngoài biển ). Tiếng súng của giặc đã nổ ầm bên tai mà triều đình còn bận bàn cãi, nghị luận lung tung, kẻ hòa, người đánh, trên dưới đều không nhất trí, đánh hòa không ngã ngũ. Nhưng tựu trung lại, ý kiến được nhiều người tán thành là chủ hòa. Điều đó đã khẳng định một thực tế là ngay từ đầu, đại bộ phận hàng ngủ quan lại phong kiến cầm quyền đã mang nặng tư tưởng thất bại chủ nghĩa, chính tư tưởng này đã làm cho quân ta mất nhiều cơ hội để đánh Pháp, hết Trần Hoàng đến Lê Đình Lý, Phạm Khắc Thận,… cuối cùng cả danh tướng Nguyễn Tri Phương cũng tỏ ra “ án binh bất động” chỉ chủ trương bao vây địch ngoài mé biển mà không chủ động tấn công địch vì đây cũng là do thái độ do dự không dức khoát của hai phái trong triều đình nhà Nguyễn.

Nhưng cũng cần nói rằng những điều kiện phòng thủ và tấn công địch trên mặt trận Đà Nẵng không phải là ít. Ngay từ đầu khi quân Pháp tấn công vào cửa biển Đà Nẵng đã gặp phải sức kháng cự quyết liệt của triều đình và nhân dân ta, khiến cho quân Pháp gặp nhiều khó khăn, buộc Pháp phải “ án binh bất động” trong thời gian dài, như tướng Giơnuiy nhận đinh rằng: “ Nếu họ đánh mạnh thì họ đã đánh bại chúng tôi lâu rồi” cũng chính thái độ do dự của triều đình đã khiến cho ta mất nhiều cơ hội tiêu diệt Pháp khi Pháp đang gặp nhiều khó khăn, bên cạnh đó do sự nhìn nhận tình hình của triều đình không đúng và không có kết hợp được với sức mạnh toàn dân để đánh bại thực dân Pháp xâm lược.

1. 2.Trong công cuộc canh tân đất nước

Đến những năm 40-50 của thế kỷ XIX , mà đặc biệt là những năm trước khi Pháp đánh chiếm Hà Nội lần thứ nhất trong triều đình đã rộ lên những phong trào cải cách đất nước, đặc biệt là những sĩ phu công giáo có cơ hội đi ra nước ngoài như: Phạm Phú Thứ, Nguyễn Hiệp, Đặng Công Trứ,…nhất là Nguyễn Trường Tộ. Những người này thấy rõ sự trì truệ của đất nước, sự bảo thủ của giới “hủ nho: và Nho giáo, sự tai hại của chính sách đóng cửa và đặc biệt là quay lưng lại với những tiến bộ kỹ thuật của văn minh phương tây. Phần lớn họ vẫn chấp nhận chế độ phong kiến, nhưng đều muốn nước ta đi theo con đường Minh Trị Duy tân của Nhật Bản

Trong tất cả những đề xuất của nhà nho yêu nước Việt Nam trong nửa đầu thế kỉ XIX, đáng chú ý hơn cả là dự án canh tân của Nguyễn Trường Tộ. Dự án của ông khiến cho không ít những người đương thời và hậu thế tán đầu và khâm phục, vì, theo họ, đó là một kế hoạch đổi mới toàn diện đất nước, nếu được thực thi, có thể xoay chuyển được tình hình đất nước lúc bấy giờ. Năm mươi tám bản điều trần trong tám năm (1863-1871) mà Nguyễn Trường Tộ gửi cho triều đình Huế là cả một bản kế hoạch đồ sộ, hy vọng để xoay vần đất nước mà người đời sau hết lòng thán phục. Nội dung bản điều trần của ông nổi lên bốn vấn đề chính: Cải cách kinh tế, văn hóa và giáo dục, quân sự, chính trị ngoại giao. Đó là đề nghị mà Nguyễn Trường Tộ đã dồn cả tâm huyết và trí lực sáng tạo nên, và điều đáng ngạc nhiên là nó không thua kém gì các nội dung cải cách của các nước láng giềng lúc bấy giờ.

Vậy, vấn đề đặt ra: Thái độ của triều Nguyễn như thế nào khi xem xét những ý kiến đó của Nguyễn Trường Tộ? Hay vì sao kế hoạch cải cách đồ sộ của ông lại không được thực hiện? Có phải ông thiếu kiên trì và nhiệt thành đệ trình bản kế hoạch lên nhà vua hay không? Hay vì Tự Đức nhất mực khước từ đề nghị này? Lâu nay và không ít ý kiến giải đáp cho rằng tất cả là do nhà Nguyễn mà đại biểu là Tự Đức.

Công bằng mà nói, không phải Tự Đức quay lưng hoàn toàn với cải cách . Ông đã đã đọc các điều trần và thái độ không phải lúc nào cũng thờ ơ với những điều tâm huyết trong cải cách. Trong thực tế, nhà vua cũng đã thi hành một số cải cách trong các lĩnh vực kinh tế ( như mở các mỏ than, sắt; định ngạch thuế trong thương mại, lập Ty bình chuẩn trông coi công việc buôn bán; mua sắm vũ khí, dịch tài liệu quân sự nước ngoài để huấn luyện quân đội; phê chuẩn việc học tiếng nước ngoài; đưa người ra nước ngoài học tập, giao lưu với một số nước…). Khi đám quần thần bàn lùi trong thực thi cải cách thì ông dụ rằng “ Xét việc thì nên cẩn thận và suy nghĩ cho chính, nhưng cũng nên làm thế nào cho tiến bộ, chứ không tiến là thoái vậy!” [9, tr. 138]. Tuy nhiên, ông cũng là một ông vua thiếu quyết đoán, chủ yếu dựa vào ý kiến của các triều thần như: Có lúc trước những đề nghị canh tân dồn dập của Nguyễn Trường Tộ thì ông lại cho rằng: “ Nguyễn Trường Tộ quá tin vào những lời hắn đề nghị. Nếu cần phải canh tân thì ta cứ làm từ từ. Tại sao lại thúc dục nhiều đến thế khi mà những khôn phép cũ của ta cũng rất đầy đủ để điều khiển quốc gia rồi” [9, tr. 141]. Vì thế, những đề án cải cách thường bị cho vào ngăn tủ rồi bị lãng quên hoặc nó được thực thi ở những điểm nào đó, nhưng cũng chỉ là nửa vời, vớt vát, không mang lại kết quả.

Không thể trách một mình vua Tự Đức. Ngôi nhà mà các nhà canh tân thiết kế trông đồ sộ nhưng lại thiếu một nền móng vững chắc, thiếu một người chỉ huy thi công- đó là một chính quyền đủ mạnh, có thể đảm đương việc triển khai canh tân. Và thực tế Việt nam cuối thế kỷ XIX cũng đã chứng minh điều đó: Một bộ máy nhà nước dựa vào đám quần thần bảo thủ, lạc hậu, một ông vua thiếu quyết đoán, không dám vượt lên những lời bàn của đám hủ nho thì những đề nghị cải cách của những nhà canh tân, trong đó có Nguyễn Trường Tộ trở nên lạc lỏng và bị rơi vào im lặng là điều tất yếu.

Ví dụ: Nếu so sánh với Nhật Bản với Xiêm thời điểm mà Nguyễn Trường Tộ đề nghị cải cách, Việt Nam chưa có một cấu trúc chính trị - xã hội tiên tiến như Nhật Bản, kể cả Xiêm. Trong lúc Âu – Mỹ, khoa học – kỹ thuật phát triển nhanh chóng, nền kinh tế thay da đổi thịt với những thành tựu đáng kinh ngạc, thể chế chính trị chuyển sang một cấu trúc mới – tư bản chủ nghĩa…thế mà ở Việt Nam triều thần quanh vua Tự Đức chỉ lo tầm chương trích cú, rửa bút mài nghiên theo lối cổ hủ, bàn đến quốc sự thì lấy nghêu, Thuấn, Hạ, Thương, Chu xa xưa của Trung Quốc làm gương, tự vỗ ngực là văn minh, chê bai thiên hạ…Khi đất nước bị đe dọa thì phái ngoài, vua hỏi kế sách thì tất cả im lặng; khi nước ngoài cải cách tác động vào và nhiều nhà canh tân Việt Nam đưa ra những điều trần đổi mới thì triều thần cho là nói càn, bản nhảm…thì những tư tưởng trên bị thất bại là điều tất yếu mà thôi.

Bên cạnh đó, triều đình Nguyễn mà đặc biệt là Vua Tự Đức vẫn chưa tin tưởng ở Nguyễn Trường Tộ để tiến hành thực hiện cải cách thông qua thái độ của Tự Đức khi xem xét bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ như: “ Những lời tê Tộ thật đã khám phá sự tình. Nhưng y vốn không phải tộc loại với ta, tình ý chưa tin nhau, vội vàng thi hành e chưa tiện” [8, tr. 217]

“ Không phải tộc loại” vì Nguyễn Trường Tộ là sĩ phu Công giáo. Và công giáo trong giai đoạn này là một vấn đề làm xói mòn sức chiến đấu của nhân dân ta. Đây là một chiêu bài của thực dân Pháp để hòng chia rẽ, hủy hoại từ bên trong sức lực của triều đình, của dân chúng ta. Từ việc kích động dân công giáo nổi dậy.

Nhưng! Nói gì đi nữa việc thất bại “ cơ hội” để nước thoát khỏi sự thống trị của thực dân Pháp, hay nói đúng hơn là thất bại trong công cuộc canh tân đất nước, để nước ta dần dần rơi vào tay thực dân Pháp, nhà Nguyễn phải một chịu một phần trách nhiệm trong việc biến việc mất nước từ không tất yếu trở thành tất yếu.

1.3 Khi kí kết các hiệp ước đầu hàng

Để tìm hiểu về thái độ của triều đình Nguyễn khi kí kết các hiệp ước đầu hàng thực dân Pháp.Vấn đề đặt ra: Vì sao nhà Nguyễn ký các hiệp ước đầu hàng trong cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884).

Như chúng ta đã biết, thực dân Pháp đã có âm mưu xâm lược nước ta từ khoảng thế kỷ XVII, nhưng chưa có điều kiện để thực hiện. Đến giữa thế kỷ XIX, viện cớ nhà Nguyễn thi hành chính sách cấm đạo, giết đạo, chính phủ Pháp đẩy mạnh kế hoạch chiến tranh xâm lược Việt Nam. Trước nguy cơ xâm lược của một kẻ thù mà nhà Nguyễn đã dựa vào để đánh bại Tây Sơn, lại có ý thức cảnh giác với âm mưu xâm chiếm của chúng, công bằng mà nói, đã chuẩn bị và tiến hành kháng cự khi thực dân Pháp dám đến gần. Khi liên quân Pháp-Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng, triều đình đã vội điều binh khiển tướng tăng cường cho mặt trận Quảng Nam để kiên quyết đánh giữ. Bên cạnh đó vua Tự Đức còn dụ thuyền tìm mưu kế hay trong quan dân đế chống lại thực dân Pháp xâm lược. Tuy vậy, triều đình Huế vẫn còn mơ hồ về âm mưu và hành động xâm lược của Pháp. Bản thân vua Tự Đức khi thấy quân Pháp chiếm đóng mãi ở Gia Định đã nói với Viện cơ mật rằng: “ trước kia trẫm nghĩ là người Tây dương đến Gia Định, đã no chán thỏa thích rồi, thì tất lui. Không ngờ chúng thực có lòng cố giữ” [9, tr. 477]. Còn các quan trong triều ( thuộc phái chủ hòa ) thì hầu hết cho rằng người Tây đánh ta chỉ để đạt được mục đích tự do thông thương và truyền đạo, mà không hiểu rằng đó chỉ là cái cớ để chúng thực hiện âm mưu xâm lược nước ta. Khi thực dân Pháp bị tướng Nguyễn Tri Phương giam chân ở Đà Nẵng thì Giơnuiy đã chuyển hướng quân tấn công vào Gia Định. Đầu năm 1962, phong trào kháng chiến của nhân dân đang dân cao, do không nắm được tình hình thế giới đến đầu tháng 5 năm 1862 triều đình Tự Đức xin “ nghị hòa” với quân Pháp, do không nắm được thực dân Pháp đang gặp khó khăn trước sự thất bại tại chiến trường Mê-hi-cô cùng cuộc chiến tranh hao tài tốn của ở Trung Quốc, chính điều này đã làm thực dân Pháp cũng phải thốt lên: “ May mắn thay, đang lúc phải đón đợi lấy một tình thế xấu thì Huế lại yêu cầu kí hòa ước”.

Với việc kí hòa ước 1862 đã gây tình trạng bất bình trong nhân dân, rồi tiếp đó là các hiệp ước khác như: hiệp ước bất bình đẳng 1874 và hiệp ước Pa-tơ-nôt năm 1884. Và hiệp ước này cũng đánh dấu một điều là nước ta hoàn toàn rơi vào tay thực dân Pháp.

Vậy, do có tư tưởng cầu hòa từ trước nhà Nguyễn đã không dùng những chính sách cứng rắng để chống lại một đế quốc hùng mạnh xâm lược đó là đế quốc Pháp, hơn nữa trong nội bộ triều đình lại luôn luôn mâu thuẫn với nhau không thể phát huy được sức mạnh toàn dân để đánh Pháp, còn những người cầm đầu thì do dự thiếu quyết đoán nên không thể đưa ra một chính sách phù hợp để chống kẻ thù. Chính sự thiếu thống nhất đó đã bị thực dân Pháp lợi dụng thừa lúc vua Tự Đức mới qua đời, triều đình đang bối rối, quân Pháp kéo vào tới sát kinh thành Huế mà triều đình vẫn đang lục đục trong việc chọn người kế vị ngôi vua. Bởi vậy nên khi Pháp đưa ra các hiệp ước đã soạn thảo sẵn, triều đình Huế chỉ còn cách ngoan ngoãn chấp nhận mà thôi, mà không có biện pháp lâu dài, toàn diện, bỏ lở nhiều cơ hội khi Pháp cũng nhiều khó khăn, như chiến tranh Pháp – Phổ (1870); không thể và không cùng nhân dân kháng chiến chống Pháp.

Xét toàn bộ điều kiện khách quan và chủ quan tác động đến việc kí hiệp ước, ta thấy triều Nguyễn đã gặp khó khăn hơn là thuận lợi. Hơn nữa, triều Nguyễn lại không biết xử lý tốt mối quan hệ giữa khó khăn và thuận lợi, thường lấy khó khăn làm lý do biện minh cho các hành động hèn nhát để thúc đẩy việc ký hiệp ước nhưng lại chưa tận dụng được cơ hội tận dụng nào để chuyển bại thành thắng, tạo sức ép với kẻ thù trên bàn thương lượng.

Nhưng cũng phải nhìn nhận một cách khách quan rằng chế độ phong kiến Việt Nam lúc đó đã khủng hoảng sâu sắc, nước Việt Nam đã suy yếu về mọi mặt nên khó có khả năng chống đỡ trước sự tấn công của tư bản phương Tây. Nhưng chính giai cấp phong kiến thống trị nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệm về sự suy yếu đó. Những chính sách bảo thủ, lạc hậu của triều Nguyễn là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước và sức sáng tạo của nhân dân. Đến khi thất bại trước cuộc vũ trang xâm lược của thực dân Pháp thì triều Nguyễn lại đổ lỗi cho khách quan và lấy việc ký hiệp ước làm lối thoát duy nhất. Thực ra trách nhiệm của triều Nguyễn trong việc làm mất nước ta vào tay thực dân Pháp là điều không thể chối cải được.

2. Trách nhiệm của triều Nguyễn trong việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX

Trước đây, do nhận thức vấn đề chưa đầy đủ, đã từng có những đánh giá khá nặng nề về triều Nguyễn, như cho là “ phản động toàn diện”, hà là “ cõng rắn cắn gà nhà” là “ rước vuoi về day mã tổ”, để rồi cam tâm bán nước cho giặc.

Giờ đây, với cái nhìn mới, cùng với sự phân tích các sự kiện lịch sử một cách khoa học khách quan, đã có một số ý kiến tương đối nhất trí về cách đánh giá nhà Nguyễn tgrong lịch sử.

Trước hết cần phải đặt triều Nguyễn – cũng như sự xâm lược của tư bản phương Tây nói chung – trong đó có tư bản Pháp vốn có nhiều quan hệ với Việt Nam từ sớm thông qua các hoạt động liên tục và ngấm ngầm trong nhân dân của đội giáo sĩ và thương nhân kiêm gián điệp – trong bối cảnh chung của lịch sử thế giới là cuộc chạy đua ráo riết giữa các nước tư bản chủ nghĩa săn tìm các thuộc địa. Khu vực Đông Nam Á – trong đó có Việt Nam, với các điều kiện đất rộng, người đông, tài nguyên phong phú luôn luôn là đối tượng dòm ngó, săn lùng, là miếng mồi ngon cho bọn tư bản háu lợi. ViệtNam cùng các nước trong khu vực phải đối đầu với nguy cơ xâm lược; và cuối cùng trước sức tấn công quyết liệt của bè lũ tư bản phương Tây có ưu thế tuyệt đối vè vũ khí đều lần lượt bị chúng thôn tính, chỉ trừ Thái Lan nhờ nằm vòa một vị trí trái độn giữa hai tên đế quốc đẩu sỏ Anh – Pháp nên vẫn giữ được nền độc lập hình thức, nhưng về thực chất vẫn nằm gọn trong hai tay đế quốc đầu sỏ.

Có thể khẳng định bối cảnh chung được giới thiệu trên là một nguyên nhân khách quan sẽ dẫn tới việc thực dân nổ súng phát động chiến tranh xâm lược Việt Nam (1858). Đó là nguyên nhân khách quan từ ngoài áp đặt tới, ngoài ý muốn chủ quan của chính quyền và nhân dân các nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam.

Đối với Việt Nam, ngoài nguyên nhân khách quan chúng được nêu trên, còn có một nguyên nhân chủ quan mà các nước trong khu vực đều không có. Đó là việc Nguyễn Ánh trên con đường lưu vong trước sức tấn công của nghĩa quân Tây Sơn, đã phải bán víu vào tư bản Pháp háu lợi đang cùng tư bản các nước khác chạy đua tìm kiếm thuộc địa trong khu vực Viễn Đông. Về vấn đề này, gần đây trong hội thảo cũng có ý kiến cho rằng việc đi cầu cứu ngoại bang chẳng qua cũng như ở nông thôn “ cháy nhà van xóm” thôi, không đáng trách cứ! Trong cuộc tranh chấp quyền lợi, việc tranh thủ đồng minh cũng là lẻ thường, trước kia đã có, mà ngày nay vẫn có. Nhưng vấn đề thái độ xử lý sau khi đã thắng lợi phải như thế nào đế chính kẻ đồng minh mới của mình không thể lợi dụng tình hình để mưu lợi. Trong việc này, nói gì thì nói ta phải công nhận rằng thái độ và cách cư xử của vua Gia Long – Và các vua sau đều có ý cảnh giác cao đối với thực dân Pháp. Ngày sau khi đánh bại Tây Sơn để lên cầm quyền Gia Long đã “ trả ơn” cho một số giáo sĩ Pháp có công giúp ông ta. Ông giữ lại vài người làm quan trong triều, phong cho các chức quan cao cấp, biệt đãi hậu hĩ, nhưng với ý thức cảnh giác cao gần như ông đã cô lập được số người này ngay tại triều đình, theo dõi sát sao và kiểm tra chặt chẽ những quan hệ của bọn Chaignesu, Vannier…trong mối quan hệ với các phái viên của chính phủ Pháp. Chính vì vậy mà giờ đây chúng ta có quyền nói là với việc làm của các vua triều Nguyễn, đặc biệt là ông vua Gia Long, không thể nói là có việc “ cõng rắn cắn gà nhà”, “ rước voi về dày mã tổ” mang tính tự nguyện.

Tất nhiên cũng phải công nhận là dù sao việc Gia Long tranh thủ sự viện trợ của Pháp cũng là một cơ hội tốt cho Pháp để ngày càng tăng cường chú ý đến Việt Nam, tìm cách xâm nhập ngày càng sâu sắc bằng hai con đường truyền giáo và buôn bán để đến khi có thời cơ thì hành động. Vì vậy cũng có thể khẳng định rằng đó là một nguyên nhân chủ quan sẽ dẫn tới cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp vào giữa thế kỷ XIX, một nguyên nhân tuy rằng chủ quan, nhưng hoàn toàn ngoài ý muốn của Nguyễn Ánh khi tranh thủ sự giúp đỡ quân sự của giặc Pháp.

Nguyên nhân chủ quan và khách quan là như vậy, nhưng các nguyên nhân đó hoàn toàn không quyết định việc nước ta bị tư bản Pháp thôn tính. Mà việc mất nước Việt Nam vào tay Pháp vào giữa thế kỷ XIX lại do trách nhiệm chủ quan của triều đình nhà Nguyễn – nói triều đình nhà Nguyễn lúc này không phải chỉ có mấy ông vua mà là cả cái bộ máy quần thần quan liêu, bảo thủ nặng nề, nhất nhất mọi xử sự và hành động đều theo tư tưởng Tống Nho hẹp hòi và cổ hủ.

Có ý kiến khẳng định rằng việc nước ta rơi vào tay thực dân Pháp hồi giữa thế kỷ XIX là do trình độ dân trí Việt Nam quá thấp kém so với kẻ thù xâm lược, “ chỉ là vì văn minh nông nghiệp của Á Đông hết sức lạc hậu, yếu hèn; mà văn minh khoa học cũng cơ giới của Tây Phương lại quá mạnh mà thôi” . Khẳng định như vậy thì còn gì là trách nhiệm chủ quan của nhà Nguyễn trong việc bảo vệ đất nước, vì một lý do có tính chất “ định mệnh”, bất khả kháng rồi. Nói như vậy là việc mất nước có tính tất yếu, kẻ yếu phải thua kẻ mạnh, người văn minh phải chiến thắng người lạc hâu.

Để làm rõ được trách nhiệm chủ quan của triều Nguyễn trong việc để mất nước vào cuối thế kỷ XIX, phải thấy được việc mất nước là một quá trình từ không tất yếu cuối cùng đã chuyển thành tất yếu, có nghĩa là buổi đầu tư bản Pháp nổ súng xâm lược, khả năng đánh bại chúng dưới lá cờ của triều đình không phải là không có, mà do chính những chính sách ai lầm của triều đình đã làm cho các khả năng đề kháng và chiến thắng của quân dân ta ngày càng tiêu mòn, kẻ địch lấn lướt từ bước này tới bước khác để cuối cùng nuốt gọn nước ta. Chứng cớ là trong thời kỳ đầu tấn công xâm lược nước ta, chúng đã vấp phải sức ngoan cường của quân dân ta chiến đấu dưới lá cờ của triều đình, tình hình chúng có lúc vô cùng nguy ngập và đã tính đến chuyện rút quân về nước để tránh bị tiêu diệt tại chỗ. Thế nhưng chính trong quá trình chiến đấu chống ngoại xâm của dân tộc đã ngày càng bộc lộ sự bất lực và phản động của triều đình Nguyễn chỉ sau một thời kỳ ngắn lãnh đạo nhân dân để chiến đấu-rõ ràng không ngoài mục đích giữ ngai vàng của dòng họ -đã nhanh chống trượt dài trên con đường nội bộ, cầu hòa để có thể đối phó với phong trào đấu tranh của nhân dân cả nước ngày càng phát triển do hàng loạt chính sách sai lầm của nhà cầm quyền, đói nội thì triệt để bóc lột nhân dân đến xương tủy để phục vụ cho cuộc sống xa hoa phung phí của bè lũ, kết hợp với thẳng tay đàn áp nhân dân các địa phương, đối ngoại lại thực hiện chính sách bành trướng đói với hai nước láng giềng sau lưng trong lúc yêu cầu chung của lịch sử ba nước bán đảo Đông Dương là phải đoàng kết với nhau để chóng lại dẻ thù chung. Bên ngoài thì kẻ thù đang ra sức đẩy mạnh âm mưu thôn tính, mà bên trong thì giữa người cầm quyền với nhân lại không cố kết một lòng, thậm chí có lúc kẻ cầm quyền đã sẵng sàng chìa tay ra hợp tác với kẻ thù dân tộc để có thêm điều kiện đàn áp phong trào quần chúng.

Nhận định tình hình nước ta khi Pháp phát động chiến tranh xâm lược, có thể khẳng định chế độ phong kiến ở Việt Nam đang ngày càng suy yếu, lực lượng vật chất và tinh thần của nhân dân ta bị sự thống trị của nhà Nguyễn hủy hoại, chí có thể cứu vãn nguy cơ mất nước nếu nhà cầm quyền sớm biết mở đường cho xã hội tiến lên theo hướng mới, tăng cường lực lượng vất chất và tinh thần trong nhân dân để có đủ khả năng bảo vệ đất nước. Muốn vậy chỉ có thể thực hiện được bằng cách điều chỉnh các mối xung đột của địa chủ với nông dân, giữa giai cấp phong kiến ngoan cố với những thành phần tư sản chớm nở, chấn chỉnh quân đội, cố kết nhân tâm, một yêu cầu mà nhà Nguyễn với tất cả những tồn tại và hạn chế của nó hoàn toàn không có khả năng đáp ứng.

Kết quả là tư bản Pháp đã có thể vượt qua những khó khăn không ít và không nhỏ của chúng để cuối cùng nuốt gọn Việt Nam.

Để kết luận, có thể khẳng địn rằng Việt Nam từ những năm đầu của thế kỷ XIX đã bị đặt vào tình trạng khủng hoảng vai trò lãnh đạo, triều Nguyễn bằng những chính sách phản động đã tự thủ tiêu vai trò lãnh đạo của mình, đối lập sâu sắc với nhân dân cả nước, ngày càng lún sâu vào con đường ngượng bộ, cầu hòa, và cuoois cùng cấu kết với kẻ thù dân tộc trong việc đàn áp, bốc lột nhân dân. Đó là trách nhiệm, đó cũng là tội lớn của nhà Nguyễn trước dân tộc, trước lịch sử. Nhà nguyễn phải chịu trách nhiệm một phần trong việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX.
 

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Top Poster Of Month
31/10/12
5,082
323
83
27
Triều Nguyễn là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử dân tộc Việt Nam, cũng là triều đại có công lẫn có “ tội”.
Cái “ công” ở đây được thể hiện ở việc trong suốt 143 năm tồn tại triều Nguyễn cũng có những đóng góp nhất định cho dân tộc đó là dưới triều Nguyễn đất nước được thống nhất từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, chính triều Nguyễn đã biên soạn những bộ sử học đồ sộ và xây dựng nên những công trình kiến trúc mà hiện nay được công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Đó là mặt tích cực còn mặt tiêu cực của triều đại phong kiến cuối cùng này được thể hiện ở cái “tội” trước lịch sử dân tộc như chính triều Nguyễn đã làm cho tiềm lực của đất nước ngày càng kiệt dần trước âm mưu xâm lược xâm thực dân Pháp. Dù một điều không thể phủ nhận là các vua Nguyễn cũng đã có nhiều cố gắng trong việc tìm kiếm và thực hiện những biện pháp nhằm củng cố triều đại và bảo vệ quốc gia. Nhưng các vua nhà Nguyễn lại lựa chọn đường lối không phù hợp với xu thế và yêu cầu của xã hội Việt Nam đặt ra, để rồi không phát huy được khối đại đoàn kết dân tộc. Nhưng cũng phải nhìn nhận một cách khách quan rằng chế độ phong kiến Việt Nam lúc đó đã khủng hoảng sâu sắc, khủng hoảng về mọi mặt khó có thể chống đở nổi trước âm mưu và hành động xâm lược của một đế quốc hùng mạnh – Pháp. Nhưng chính giai cấp phong kiến phải chịu về sự suy yếu này, trong triều kẻ bàn hòa, người bàn đánh, khi giặc đánh tới kinh thành mà còn mơ hồ không có cách đối phó, để rồi dần dần nước ta bị rơi hoàn toàn vào tay Pháp. Còn người đứng đầu – vua Tự Đức tuy có ý cải cách đưa đất nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu, nhưng lại thiếu quyết đoán luôn luôn trong chờ vào ý kiến của quan lại trong triều, để rồi những cải cách của các nhà yêu nước như Nguyễn Trường Tộ với 58 bản điều trần nhưng cũng bị lãng quên trong ngăn tủ.

Yêu nước nhưng không có biện pháp đúng đắn, sáng tạo để giữ nước, cuối cùng chính triều Nguyễn đặc biệt là vua Tự Đức đã làm cho việc mất nước từ không tất yếu trở thành tất yếu. Đây là trách nhiệm mà cũng là “tội”, mà triều đại phong kiến cuối cùng này phải chịu trước dân tộc.
 

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Top Poster Of Month
31/10/12
5,082
323
83
27
VÌ SAO NHÀ NGUYỄN ĐỂ MẤT NƯỚC?



1/Qua nhiều năm phân tranh, loạn lạc kéo dài, thiên tai nhiều phen, nạn sưu thuế cao, nạn tham nhũng, bóc lột của bọn cường hào, bọn quan lại biến chất cùng nếp sống xa hoa của chúng… nên đến thời Tự Đức, sức dân và nền nông công thương nưóc ta đều đã lạc hậu, đã suy kiệt.

Đình thần Trương Quốc Dụng tâu: “…tài lực của nhân dân nay không bằng 6/10 năm trước”.Đến khi Pháp tấn công Đà Nẵng, Nguyễn Tri Phương cũng đã tâu rằng: “Quân và dân của đã hết, sức đã yếu”.

2.Không có chính sách sánh suốt và thích hợp để nuôi “sức dân”(nhất là giới nông dân: lực lượng chủ yếu dành cho sản xuất và quốc phòng), không lôi kéo được người dân tộc ít người, người dân theo đạo công giáo đứng chung đội ngũ:

Trong sử Việt, không có triều đại nào loạn lạc nhiều như triều Nguyễn. Đánh dẹp xong nơi này thì nơi khác mọc lên.Vì sao vậy? Có nhiều nguyên do, nhưng tựu chung cũng bởi dân quá bần cùng vì nạn thuế sưu cao, vì nạn thiên tai gây mất mùa, vì nạn quan lại vừa tham nhũng vừa hà khắc, vì chính sách cấm đạo quá đáng và còn vì âm mưu muốn đồng hóa một số dân tộc ít người…Chi tiết của vấn đề nhiều góc cạnh này, bạn đọc có thể tìm hiểu thêm trong sách sử.

3/Quân đội nhà Nguyễn không còn đủ mạnh như thời đánh nhau với nhà Tây sơn:


Nhiều sách sử viết về thời kỳ này cho biết: lính chính qui không quá một vạn, tinh thần thì sợ vũ khí khá hiện đại của giặc, đánh đấm còn theo thói cũ, vũ khí quá thô sơ; lương ăn áo mặc thảy đều thiếu thốn…

Đại thần Phạm Phú Thứ nhận xét:
“Quân sĩ hèn nhát là do chưởng quan bất tài và vô quyền. Quân sĩ nhiều người không có lương bổng, rất đói khổ, phải tìm cách giúp đỡ nhau chớ không trông mong gì đến gạo trong kho.Quan võ thì thường than thở rằng mình hết sức chống giữ biên cương, rủi ra chết đi thì chỉ thiệt mình, chứ công trạng nào ai nghĩ đến cho…”

4/Trong tình cảnh như vậy mà nơi triều đình đa phần vua quan đều bất cập trước biến động của thời cuộc, không ngờ Pháp ở xa đến đánh chiếm; nên lúng túng trong cách suy nghĩ, phòng chống,ứng,xử:

Nhà Nguyễn không chỉ bất cập trước biến động của thời cuộc trong những năm đầu khi Pháp nổ súng vào nước ta; mà vào năm 1870, triều đình Huế đã đánh mất hai cơ hội quí báu để cởi ách thực dân chỉ vì căn bệnh “khờ khạo và bạc nhược”:

-Năm 1870, Pháp bị Đức đánh thua xiểng niểng.Chiều ngày 1-9, hoàng đế Na-pơ-lê-ông III bị bắt cùng mười vạn binh, ngày 27-10, tất cả 173000 quân Pháp ở thành Mết-zơ đầu hàng.Khoảng thời gian này, tin tức về cuộc thất bại thật thảm hại này lan tới Sài Gòn, tới Huế. Soái phủ Nam Kỳ hoảng sợ vội vàng cho phòng bị nghiêm mật, vì e rằng Huế sẽ nhân cơ hội này để tổ chức phản công. Cuối cùng, bọn chúng đã thở phào nhẹ nhõm khi nhận được “thơ hỏi thăm và chia buồn” của vua Tự Đức!

-Một cơ hội khác bị bỏ lỡ nữa, đó là lúc tư bản Pháp bị cuộc cách mạng vô sản nổi lên ở Pa-ri và phong trào công nhân mạnh lên ở nhiều tỉnh (năm 1871).Tuy sau này Công xã Pa-ri thất bại, nhưng giai cấp tư sản Pháp còn phải vướng víu rất nhiều khi củng cố lại chính quyền, không còn đầu óc nào để lo cho một thuộc địa quá xa xăm…

5.Tại “sân nhà” mà nhà Nguyễn không dám đánh, luôn giữ “thế thủ” và đường lối “chủ hòa” thì làm sao không mất nước cho được:

Nói là “chủ hàng” thì đúng hơn; vì chỉ có chủ động tấn công, ta mới giành được ưu thế bất ngờ, và ta cũng không cần đóng vai “quân tử Tàu” trong cung cách đánh với xâm lược; nghĩa là bằng mọi giá, mọi cách, mọi nơi ta phải làm sao để cầm chân, phân tán mỏng giặc ra và làm hao mòn sức lực của chúng thì mới có thể ít ra ngồi ngang hàng, ngang mặt tính chuyện thương lượng chớ.

Thêm nữa cũng vì căn bệnh “khờ khạo và bạc nhược”vừa nêu trên, nhà Nguyễn không thể tạo được tiếng nói chung của mọi tầng lớp, không củng cố và phát huy được khả năng, tiềm lực, trí tuệ của dân tộc.Vậy có thể nói sức đề kháng của dân tộc lúc bấy giờ vì sự lãnh đạo quá đổi non kém mà trở nên khá yếu ớt.

Nói đâu xa, ngay nơi triều đình sự non kém và yếu ớt, đã bộc lộ thật rõ nét:Trong sách Dương sự thủy mạccó ghi mấy câu luận bàn rất ngô nghê, rất tức cười của triều thần khi giặc đã vào nhà rồi, tôi tóm gọn lại như sau để minh chứng:

-“chống giặc duy thủ là hơn. Họ và ta vốn không gần nhau, không thể thôn tín nhau. Chuyến này chúng đến chẳng qua là vì lợi. Lấy chủ đợi khách, nên dùng kế trì cửu để đợi họ mệt mỏi….Tự Đức cho là phải.”

- “Bấy lâu nay ta lạnh nhạt với họ, họ bị các nước láng giềng chê cười, cho nên đem quân đánh ta cho được hòa-”trích lời tâu của tướng Nguyễn Bá Nghi

Nói thêm về vị tướng này.Tuy ông cũng là người yêu nước, có tiết tháo như tướng Nguyễn Tri Phương; nhưng có lẽ vì không có cái nhìn toàn cục, không lường hết dã tâm và quá sợ hãi trước vũ khí của thực dân, nên ông đã đề ra đối sách với bọn thực dân sai lầm vô cùng.

Như từ ngày ông nhận lệnh vào Nam để thay Nguyễn Tri Phương chỉ huy cuộc kháng chiến. Vừa xem xét tình hình xong, Bá Nghi đã gửi lời tâu liên tiếp về triều với ý rằng: “Giữ không tiện, đánh cũng không tiện”, “hòa thì mất ít, đánh thì mất nhiều”,”Pháp sở dĩ đánh ta vì ta lạnh nhạt với nó, nó đánh ta là để có hòa”,“đánh giữ đều không được, trừ một chước hòa, tôi chỉ còn chịu tội…” “Tôi không đắp đồn lũy nữa, không thu trưng binh nữa…kẻ địch xét thấy ý ta không trung thực, họ lâi càng thêm chém cắt hơn”

Nghe lời tâu , quá đổi “xụi lơ”, không chút nhuệ khí nào, ấy vậy mà vua Tự Đức còn

buông ra những lời động viên quân tướng cũng rất

đáng cười ra nước mắt: Phải gắng sức, khéo dùng lời cảm hóa kẻ địch để họ kiêng nể mà nghe ta”( tríchDương sự thủy mạc, khuyếtdanh, bản dịch của Khoa Sử, ĐHTH Hà Nội)…

Luận bàn vấn đề này, Gs Trần Văn Giàu đã có nhận xét trong Tổng tập, tôi tóm gọn lại như sau:
Triều Nguyễn không dự kiến tình huống Pháp chiếm giữ nước ta.Vì họ cho nước Pháp xa Việt Nam lắm, họ không ở gần ta như nhà Minh , nhà Thanh…nên họ lấy nước ta làm gì, chẳng qua họ cần mấy thẻo đất để lập thương điếm, lập nhà thờ và để đòi bồi thường chiến phí thôi.

Bởi nhà Nguyễn mê muội như thế, nên ông chua chát viết thêm:

Xứ ta vào những năm 1860-1862, quân Tây có bao nhiêu, có lúc chỉ có khoảng 300 tên.Chỉ cần một đội quân cảm tử không đông lắm, bằng dao găm đã có thể tiêu diệt chúng trong một đêm thì khí thế quân ta lên biết bao nhiêu!...”Và gần đây, có ai đó còn nhớ chuyện đã u buồn, đại khái nói là Tây có một nhúm người mà chúng đô hộ ta cả trăm năm…. Đôi lời trách cứ này, thiết nghĩ thật đáng suy gẫm.


6/Thực tế cho thấy, triều đình nhà Nguyễn theo đuổi đường lối “bế quan tỏa cảng”, không nhanh chóng “canh tân” đất nước là không phù hợp với yêu cầu của xã hội và xu thế của thời đại.

Việt Nam và Trung Quốc vào thời buổi ấy gặp nhau ở điểm này: chọn đường lối “đóng cửa”, vẫn không ngăn được gót giày của bọn xâm lăng.Vì sao vậy? Vì thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở châu Âu đã phát triển ngày càng lớn mạnh.Và nước ta cùng như nhiều nước khác có hoàn cảnh tương tự, nhanh chóng nằm trong tầm ngắm của bọn thực dân tham lam trong kế hoạch xâm chiếm đất đai, giành giật thị trường và gây thanh thế ở khu vực…

Điều cốt lõi là cách ta “mở cửa” như thế nào để vừa bảo vệ được vương quyền, sự toàn vẹn của lãnh thổ, nền độc lập của dân tộc; vừa thỏa mãn được lợi ích của giới tư bản.

Bài học của vương triều Nhật Bản ở vào thời kỳ ấy và có hoàn cảnh tương tợ như ta, theo tôi đến hôm nay vẫn nhiều điều đáng cho ta suy gẫm.
Một điều cốt lõi khác nữa là chỉ có “đổi mới”, mới có nhiều cơ hội, nhiều điều kiện để đưa đất nước nhanh chóng phát triển, nhanh chóng thoát cảnh đói nghèo, lạc hậu về mọi nhiều mặt

Lịch sử trên thế giới đã và đang cho ta thấy chỉ có con đường“dân giàu, nước mạnh” mới có thể bảo vệ được non sông, chủ quyền của dân tộc.


Và thật đáng trách, trước tình cảnh nước nhà nguy khốn khi ấy, một

số quan lại, sĩ phu thức thời, tiến bộ mạnh dạn đưa ra nhiều đề nghị

đổi mới đầy tâm huyết: như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ,

Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Tư Giản, Bùi Viện…


nhưng tất cả đều không được triều đình Nguyễn thủ cựu nghe theo.



Phan Thanh Giản là một đại quan của nhà Nguyễn.Ông có dịp tận

mắt nhìn thấy sự lớn mạnh của nền văn minh phương Tây, đã buồn

bã viết:

Tự Thán

Từ ngày đi sứ tới Tây kinh,

Thấy việc Âu châu phải giật mình.

Kêu gọi đồng bang mau kịp bước,

Hết lời năn nỉ chẳng ai tin…

7/Các vua nhà Nguyễn luôn đặt ngôi báu lên hàng đầu, nên có thái độ thật “ích kỷ”, “sợ thù trong hơn sợ giặc ngoài”, nên dần dà trở thành tay sai ngày càng đắc lực cho thực dân.

Bởi lẽ ấy, khi đất nước bị lấn chiếm, họ không những dễ dàng nhân nhượng những đòi hỏi tham lam của thực dân, mà còn nhanh chóng quay lưng lại, thậm chí còn làm cản trở, làm sa sút thêm tinh thần chiến đấu chống lại bọn ngoại xâm của những con dân yêu nước. Để chi vậy? Để họ rãnh tay đàn áp các cuộc nổi dậy, mà “ theo con số thống kê được thì trong 4 triều đại, từ Gia Long đến Tự Đức, có tới trên 400 cuộc.Và tất cả đều bị đàn áp dã man” ( theo GS.Văn Tạo)

Và một tác giả khác cũng đã phê phán:


Sau “vết nhơ lịch sử”(Ca Văn Thỉnh đã gọi hòa ước Nhâm Tuất,

năm 1862 như vậy), việc tệ hại tiếp theo là triều đình đã ra lệnh bãi

binh, lại còn giúp thực dân truy lùng các thủ lĩnh kháng chiến.

Do vậy, có thể nói rằng “Pháp tấn công mà ta thủ hòa tất nhiên

phải đi đến chuyện mất nước” và tất cả những việc làm mù quáng

vừa kể trên còn là “một sự phản bội của Huế”(Trần Văn Giàu).

8.Nhận thấy đại bộ phận vua quan nhà Nguyễn, ngày càng thiếu sáng suốt, bất lực, cầu hòa, quay lưng lại với nhân dân. Không kể nhiều vụ loạn lạc đã xảy ra ở thời Tự Đức, ít nhất đã có 4 cuộc đảo chánh nhằm thay đổi ngôi vua:

-Đấy là âm mưu xảy ra khi Tự Đức vừa lên ngôi do Hồng Bảo là người anh con dòng thứ, cùng một số người muốn giành lại ngai vàng.Việc bại lộ, Hồng Bảo bị tống giam rồi tự tử trong ngục.

-Năm 1864, xảy ra vụ nổi dậy của Hồng Tập, con hoàng thân Miên Áo, em chú bác của vua, cùng với một số người khác cùng phất cờ “Bình Tây sát tả”, lập kế hoạch giết Phan thanh Giản, Trần Tiến Thành, thay thế Tự Đức bằng một ông vua khác. Bại lộ, Hồng Tập và Nguyễn Văn Viện bị án chém.

- Vào năm 1866, do Đoàn Trưng là rể của Tùng Thiện Vương (tức là em rể họ của Tự Đức) đã nổi lên gây cuộc binh biến ( sử cũ gọi là giặc Chày Vôi) nhằm lập Hoàng tôn Ưng Đạo, con của Hồng Bảo lên ngôi. Tự Đức suýt bị giết và sau khi dập tắt cuộc bạo loạn, ông đã cho xử tử cả nhóm Đoàn Trưng và mẹ con Ưng Đạo (là chị dâu và cháu của ông).-Hòa ước 1862 và 1874 gây bất bình trong cả nước.

Ở Bắc cũng như ở Nam, đông đảo sĩ phu và người dân yêu nước tự động hợp thành phe “Văn thân”, mạnh nhất là ở Nghệ An, Hà Tĩnh do Trần Tấn, Đặng Như Mai làm thủ lĩnh. Họ giương cao ngọn cờ “Bình Tây diệt Triều”, tuy có chiếm được Hà Tĩnh, nhưng rốt cùng cũng bị quân triều đình dẹp tan…

Tất cả đều thất bại, vì sao? Vì họ có phần tự phát, nóng vội, thiếu đường lối và tổ chức.

Và nhất là họ thiếu một gương mặt thật sáng giá, đủ tài đức, đủ sáng suốt để có thể qui tựu mọi lực lượng, mọi tầng lớp, mọi nơi cùng một lòng đứng dậy và kiên trì đi đến mục tiêu chung.Bỏi không được vậy, nên ta thấy thực dân và phong kiến dễ dàng dẹp tan, bẻ gãy nhanh chóng những phe nhóm cứ nổi lên nhỏ lẻ nhằm chống đối bọn chúng...

(Trích một phần trong bài soạn: Nhớ Nguyễn Tri Phương, cùng vài trang sử buồn xa cũ…)

Như vậy ta có thể khẳng định việc thực dân Pháp xâm lược nước ta là điều tất yếu không thể tránh khỏi nhưng việc nước ta rơi vào tay Pháp trở thành thuộc địa của Pháp thuộc về trách nhiệm của nhà Nguyễn. Quyền lợi dòng họ đã đặt lên trên quyền lợi của dân tộc đầu hàng Pháp bán nước đẩy nhân dân ta vào tình cảnh mất nước.
 

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Top Poster Of Month
31/10/12
5,082
323
83
27
VÌ SAO NHÀ NGUYỄN ĐỂ MẤT NƯỚC?


1/Qua nhiều năm phân tranh, loạn lạc kéo dài, thiên tai nhiều phen, nạn sưu thuế cao, nạn tham nhũng, bóc lột của bọn cường hào, bọn quan lại biến chất cùng nếp sống xa hoa của chúng… nên đến thời Tự Đức, sức dân và nền nông công thương nưóc ta đều đã lạc hậu, đã suy kiệt.

Đình thần Trương Quốc Dụng tâu: “…tài lực của nhân dân nay không bằng 6/10 năm trước”.Đến khi Pháp tấn công Đà Nẵng, Nguyễn Tri Phương cũng đã tâu rằng: “Quân và dân của đã hết, sức đã yếu”.

2.Không có chính sách sánh suốt và thích hợp để nuôi “sức dân”(nhất là giới nông dân: lực lượng chủ yếu dành cho sản xuất và quốc phòng), không lôi kéo được người dân tộc ít người, người dân theo đạo công giáo đứng chung đội ngũ:

Trong sử Việt, không có triều đại nào loạn lạc nhiều như triều Nguyễn. Đánh dẹp xong nơi này thì nơi khác mọc lên.Vì sao vậy? Có nhiều nguyên do, nhưng tựu chung cũng bởi dân quá bần cùng vì nạn thuế sưu cao, vì nạn thiên tai gây mất mùa, vì nạn quan lại vừa tham nhũng vừa hà khắc, vì chính sách cấm đạo quá đáng và còn vì âm mưu muốn đồng hóa một số dân tộc ít người…Chi tiết của vấn đề nhiều góc cạnh này, bạn đọc có thể tìm hiểu thêm trong sách sử.

3/Quân đội nhà Nguyễn không còn đủ mạnh như thời đánh nhau với nhà Tây sơn:

Nhiều sách sử viết về thời kỳ này cho biết: lính chính qui không quá một vạn, tinh thần thì sợ vũ khí khá hiện đại của giặc, đánh đấm còn theo thói cũ, vũ khí quá thô sơ; lương ăn áo mặc thảy đều thiếu thốn…

Đại thần Phạm Phú Thứ nhận xét:
“Quân sĩ hèn nhát là do chưởng quan bất tài và vô quyền. Quân sĩ nhiều người không có lương bổng, rất đói khổ, phải tìm cách giúp đỡ nhau chớ không trông mong gì đến gạo trong kho.Quan võ thì thường than thở rằng mình hết sức chống giữ biên cương, rủi ra chết đi thì chỉ thiệt mình, chứ công trạng nào ai nghĩ đến cho…”

4/Trong tình cảnh như vậy mà nơi triều đình đa phần vua quan đều bất cập trước biến động của thời cuộc, không ngờ Pháp ở xa đến đánh chiếm; nên lúng túng trong cách suy nghĩ, phòng chống,ứng,xử:

Nhà Nguyễn không chỉ bất cập trước biến động của thời cuộc trong những năm đầu khi Pháp nổ súng vào nước ta; mà vào năm 1870, triều đình Huế đã đánh mất hai cơ hội quí báu để cởi ách thực dân chỉ vì căn bệnh “khờ khạo và bạc nhược”:

-Năm 1870, Pháp bị Đức đánh thua xiểng niểng.Chiều ngày 1-9, hoàng đế Na-pơ-lê-ông III bị bắt cùng mười vạn binh, ngày 27-10, tất cả 173000 quân Pháp ở thành Mết-zơ đầu hàng.Khoảng thời gian này, tin tức về cuộc thất bại thật thảm hại này lan tới Sài Gòn, tới Huế. Soái phủ Nam Kỳ hoảng sợ vội vàng cho phòng bị nghiêm mật, vì e rằng Huế sẽ nhân cơ hội này để tổ chức phản công. Cuối cùng, bọn chúng đã thở phào nhẹ nhõm khi nhận được “thơ hỏi thăm và chia buồn” của vua Tự Đức!

-Một cơ hội khác bị bỏ lỡ nữa, đó là lúc tư bản Pháp bị cuộc cách mạng vô sản nổi lên ở Pa-ri và phong trào công nhân mạnh lên ở nhiều tỉnh (năm 1871).Tuy sau này Công xã Pa-ri thất bại, nhưng giai cấp tư sản Pháp còn phải vướng víu rất nhiều khi củng cố lại chính quyền, không còn đầu óc nào để lo cho một thuộc địa quá xa xăm…

5.Tại “sân nhà” mà nhà Nguyễn không dám đánh, luôn giữ “thế thủ” và đường lối “chủ hòa” thì làm sao không mất nước cho được:

Nói là “chủ hàng” thì đúng hơn; vì chỉ có chủ động tấn công, ta mới giành được ưu thế bất ngờ, và ta cũng không cần đóng vai “quân tử Tàu” trong cung cách đánh với xâm lược; nghĩa là bằng mọi giá, mọi cách, mọi nơi ta phải làm sao để cầm chân, phân tán mỏng giặc ra và làm hao mòn sức lực của chúng thì mới có thể ít ra ngồi ngang hàng, ngang mặt tính chuyện thương lượng chớ.

Thêm nữa cũng vì căn bệnh “khờ khạo và bạc nhược”vừa nêu trên, nhà Nguyễn không thể tạo được tiếng nói chung của mọi tầng lớp, không củng cố và phát huy được khả năng, tiềm lực, trí tuệ của dân tộc.Vậy có thể nói sức đề kháng của dân tộc lúc bấy giờ vì sự lãnh đạo quá đổi non kém mà trở nên khá yếu ớt.

Nói đâu xa, ngay nơi triều đình sự non kém và yếu ớt, đã bộc lộ thật rõ nét:Trong sách Dương sự thủy mạccó ghi mấy câu luận bàn rất ngô nghê, rất tức cười của triều thần khi giặc đã vào nhà rồi, tôi tóm gọn lại như sau để minh chứng:

-“chống giặc duy thủ là hơn. Họ và ta vốn không gần nhau, không thể thôn tín nhau. Chuyến này chúng đến chẳng qua là vì lợi. Lấy chủ đợi khách, nên dùng kế trì cửu để đợi họ mệt mỏi….Tự Đức cho là phải.”

- “Bấy lâu nay ta lạnh nhạt với họ, họ bị các nước láng giềng chê cười, cho nên đem quân đánh ta cho được hòa-”trích lời tâu của tướng Nguyễn Bá Nghi

Nói thêm về vị tướng này.Tuy ông cũng là người yêu nước, có tiết tháo như tướng Nguyễn Tri Phương; nhưng có lẽ vì không có cái nhìn toàn cục, không lường hết dã tâm và quá sợ hãi trước vũ khí của thực dân, nên ông đã đề ra đối sách với bọn thực dân sai lầm vô cùng.

Như từ ngày ông nhận lệnh vào Nam để thay Nguyễn Tri Phương chỉ huy cuộc kháng chiến. Vừa xem xét tình hình xong, Bá Nghi đã gửi lời tâu liên tiếp về triều với ý rằng: “Giữ không tiện, đánh cũng không tiện”, “hòa thì mất ít, đánh thì mất nhiều”,”Pháp sở dĩ đánh ta vì ta lạnh nhạt với nó, nó đánh ta là để có hòa”,“đánh giữ đều không được, trừ một chước hòa, tôi chỉ còn chịu tội…” “Tôi không đắp đồn lũy nữa, không thu trưng binh nữa…kẻ địch xét thấy ý ta không trung thực, họ lâi càng thêm chém cắt hơn”

Nghe lời tâu , quá đổi “xụi lơ”, không chút nhuệ khí nào, ấy vậy mà vua Tự Đức còn

buông ra những lời động viên quân tướng cũng rất

đáng cười ra nước mắt: Phải gắng sức, khéo dùng lời cảm hóa kẻ địch để họ kiêng nể mà nghe ta”( tríchDương sự thủy mạc, khuyếtdanh, bản dịch của Khoa Sử, ĐHTH Hà Nội)…

Luận bàn vấn đề này, Gs Trần Văn Giàu đã có nhận xét trong Tổng tập, tôi tóm gọn lại như sau:
Triều Nguyễn không dự kiến tình huống Pháp chiếm giữ nước ta.Vì họ cho nước Pháp xa Việt Nam lắm, họ không ở gần ta như nhà Minh , nhà Thanh…nên họ lấy nước ta làm gì, chẳng qua họ cần mấy thẻo đất để lập thương điếm, lập nhà thờ và để đòi bồi thường chiến phí thôi.

Bởi nhà Nguyễn mê muội như thế, nên ông chua chát viết thêm:

Xứ ta vào những năm 1860-1862, quân Tây có bao nhiêu, có lúc chỉ có khoảng 300 tên.Chỉ cần một đội quân cảm tử không đông lắm, bằng dao găm đã có thể tiêu diệt chúng trong một đêm thì khí thế quân ta lên biết bao nhiêu!...”Và gần đây, có ai đó còn nhớ chuyện đã u buồn, đại khái nói là Tây có một nhúm người mà chúng đô hộ ta cả trăm năm…. Đôi lời trách cứ này, thiết nghĩ thật đáng suy gẫm.


6/Thực tế cho thấy, triều đình nhà Nguyễn theo đuổi đường lối “bế quan tỏa cảng”, không nhanh chóng “canh tân” đất nước là không phù hợp với yêu cầu của xã hội và xu thế của thời đại.

Việt Nam và Trung Quốc vào thời buổi ấy gặp nhau ở điểm này: chọn đường lối “đóng cửa”, vẫn không ngăn được gót giày của bọn xâm lăng.Vì sao vậy? Vì thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản ở châu Âu đã phát triển ngày càng lớn mạnh.Và nước ta cùng như nhiều nước khác có hoàn cảnh tương tự, nhanh chóng nằm trong tầm ngắm của bọn thực dân tham lam trong kế hoạch xâm chiếm đất đai, giành giật thị trường và gây thanh thế ở khu vực…

Điều cốt lõi là cách ta “mở cửa” như thế nào để vừa bảo vệ được vương quyền, sự toàn vẹn của lãnh thổ, nền độc lập của dân tộc; vừa thỏa mãn được lợi ích của giới tư bản.

Bài học của vương triều Nhật Bản ở vào thời kỳ ấy và có hoàn cảnh tương tợ như ta, theo tôi đến hôm nay vẫn nhiều điều đáng cho ta suy gẫm.
Một điều cốt lõi khác nữa là chỉ có “đổi mới”, mới có nhiều cơ hội, nhiều điều kiện để đưa đất nước nhanh chóng phát triển, nhanh chóng thoát cảnh đói nghèo, lạc hậu về mọi nhiều mặt

Lịch sử trên thế giới đã và đang cho ta thấy chỉ có con đường“dân giàu, nước mạnh” mới có thể bảo vệ được non sông, chủ quyền của dân tộc.


Và thật đáng trách, trước tình cảnh nước nhà nguy khốn khi ấy, một

số quan lại, sĩ phu thức thời, tiến bộ mạnh dạn đưa ra nhiều đề nghị

đổi mới đầy tâm huyết: như Nguyễn Trường Tộ, Phạm Phú Thứ,

Nguyễn Đức Hậu, Nguyễn Tư Giản, Bùi Viện…


nhưng tất cả đều không được triều đình Nguyễn thủ cựu nghe theo.



Phan Thanh Giản là một đại quan của nhà Nguyễn.Ông có dịp tận

mắt nhìn thấy sự lớn mạnh của nền văn minh phương Tây, đã buồn

bã viết:

Tự Thán

Từ ngày đi sứ tới Tây kinh,

Thấy việc Âu châu phải giật mình.

Kêu gọi đồng bang mau kịp bước,

Hết lời năn nỉ chẳng ai tin…

7/Các vua nhà Nguyễn luôn đặt ngôi báu lên hàng đầu, nên có thái độ thật “ích kỷ”, “sợ thù trong hơn sợ giặc ngoài”, nên dần dà trở thành tay sai ngày càng đắc lực cho thực dân.

Bởi lẽ ấy, khi đất nước bị lấn chiếm, họ không những dễ dàng nhân nhượng những đòi hỏi tham lam của thực dân, mà còn nhanh chóng quay lưng lại, thậm chí còn làm cản trở, làm sa sút thêm tinh thần chiến đấu chống lại bọn ngoại xâm của những con dân yêu nước. Để chi vậy? Để họ rãnh tay đàn áp các cuộc nổi dậy, mà “ theo con số thống kê được thì trong 4 triều đại, từ Gia Long đến Tự Đức, có tới trên 400 cuộc.Và tất cả đều bị đàn áp dã man” ( theo GS.Văn Tạo)

Và một tác giả khác cũng đã phê phán:


Sau “vết nhơ lịch sử”(Ca Văn Thỉnh đã gọi hòa ước Nhâm Tuất,

năm 1862 như vậy), việc tệ hại tiếp theo là triều đình đã ra lệnh bãi

binh, lại còn giúp thực dân truy lùng các thủ lĩnh kháng chiến.

Do vậy, có thể nói rằng “Pháp tấn công mà ta thủ hòa tất nhiên

phải đi đến chuyện mất nước” và tất cả những việc làm mù quáng

vừa kể trên còn là “một sự phản bội của Huế”(Trần Văn Giàu).

8.Nhận thấy đại bộ phận vua quan nhà Nguyễn, ngày càng thiếu sáng suốt, bất lực, cầu hòa, quay lưng lại với nhân dân. Không kể nhiều vụ loạn lạc đã xảy ra ở thời Tự Đức, ít nhất đã có 4 cuộc đảo chánh nhằm thay đổi ngôi vua:

-Đấy là âm mưu xảy ra khi Tự Đức vừa lên ngôi do Hồng Bảo là người anh con dòng thứ, cùng một số người muốn giành lại ngai vàng.Việc bại lộ, Hồng Bảo bị tống giam rồi tự tử trong ngục.

-Năm 1864, xảy ra vụ nổi dậy của Hồng Tập, con hoàng thân Miên Áo, em chú bác của vua, cùng với một số người khác cùng phất cờ “Bình Tây sát tả”, lập kế hoạch giết Phan thanh Giản, Trần Tiến Thành, thay thế Tự Đức bằng một ông vua khác. Bại lộ, Hồng Tập và Nguyễn Văn Viện bị án chém.

- Vào năm 1866, do Đoàn Trưng là rể của Tùng Thiện Vương (tức là em rể họ của Tự Đức) đã nổi lên gây cuộc binh biến ( sử cũ gọi là giặc Chày Vôi) nhằm lập Hoàng tôn Ưng Đạo, con của Hồng Bảo lên ngôi. Tự Đức suýt bị giết và sau khi dập tắt cuộc bạo loạn, ông đã cho xử tử cả nhóm Đoàn Trưng và mẹ con Ưng Đạo (là chị dâu và cháu của ông).-Hòa ước 1862 và 1874 gây bất bình trong cả nước.

Ở Bắc cũng như ở Nam, đông đảo sĩ phu và người dân yêu nước tự động hợp thành phe “Văn thân”, mạnh nhất là ở Nghệ An, Hà Tĩnh do Trần Tấn, Đặng Như Mai làm thủ lĩnh. Họ giương cao ngọn cờ “Bình Tây diệt Triều”, tuy có chiếm được Hà Tĩnh, nhưng rốt cùng cũng bị quân triều đình dẹp tan…

Tất cả đều thất bại, vì sao? Vì họ có phần tự phát, nóng vội, thiếu đường lối và tổ chức.

Và nhất là họ thiếu một gương mặt thật sáng giá, đủ tài đức, đủ sáng suốt để có thể qui tựu mọi lực lượng, mọi tầng lớp, mọi nơi cùng một lòng đứng dậy và kiên trì đi đến mục tiêu chung.Bỏi không được vậy, nên ta thấy thực dân và phong kiến dễ dàng dẹp tan, bẻ gãy nhanh chóng những phe nhóm cứ nổi lên nhỏ lẻ nhằm chống đối bọn chúng...

(Trích một phần trong bài soạn: Nhớ Nguyễn Tri Phương, cùng vài trang sử buồn xa cũ…)

Như vậy ta có thể khẳng định việc thực dân Pháp xâm lược nước ta là điều tất yếu không thể tránh khỏi nhưng việc nước ta rơi vào tay Pháp trở thành thuộc địa của Pháp thuộc về trách nhiệm của nhà Nguyễn. Quyền lợi dòng họ đã đặt lên trên quyền lợi của dân tộc đầu hàng Pháp bán nước đẩy nhân dân ta vào tình cảnh mất nước.
Sự thất bại của triều Nguyễn đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá mà trước hết về phân hoá và nhận định đúng kẻ thù. Bài học này đã được chứng minh trong thực tế kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta sau này mà hiệp định sơ bộ (6/3/1946) và tạm ước (14/9/1946) là minh chứng cho thắng lợi đó. Bài học kinh nghiệm đắt giá hơn là bài học về đoàn kết và đại đoàn kết đã được lịch sử đúc rút qua nhiều biến cố trọng đại của dân tộc nhất là trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm. Tư tưởng đại đoàn kết đó đã được Hồ Chí Minh nối tiếp, vận dụng sáng tạo, linh hoạt và phát triển trên tầm cao mới, Người từng viết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết/ Thành công, thành công, đại thành công. Đó là những di sản quý giá đối với công cuộc xây dựng và phát triển nhà nước ta hiện nay.
 
  • Like
Reactions: DreamHigh 18

Hot nhất trong tháng