Chia Sẻ sự thay đổi về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng của Nguyễn Tuân

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Top Poster Of Month
31/10/12
5,082
323
83
27
Bình luận cảnh vượt thác trong “Người lái đò Sông Đà” và cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù”. Qua đó, chỉ rõ sự thay đổi về phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng.


BÀI LÀM THAM KHẢO

Nguyễn Tuân là nhà văn có nhiều trang viết rất sống động về những con người phi thường, tính cách phi thường. Nhân vật của ông mỗi khi đã xuất hiện thì dứt khoát phải có dấu ấn đặc biệt. Cảnh vượt thác của ông lái đò sông Đà trong Người lái đò sông Đà và cảnh cho chữ của Huấn Cao trong Chữ người tử tù là hai chi tiết nghệ thuật đặc sắc. Qua cảnh cho chữ và cảnh vượt thác, Nguyễn Tuân đã mang đến cho bạn đọc những trang văn tuyệt bút nhất mọi thời đại.



Trong văn nghiệp của Nguyễn Tuân, truyện ngắn Chữ người tử tù (trong tập Vang bóng một thời – sáng tác trước cách mạng) và Người lái đò sông Đà (trong tùy bút Sông Đà – sáng tác trong chuyến đi thực tế lên Tây Bắc 1958) là hai thành công nổi bật, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của tác giả ở hai giai đoạn sáng tác. Đặc biệt là cảnh cho chữ và cảnh vượt thác được xem là những áng văn đẹp nhất trong văn học Việt Nam.


Đọc hai cảnh tượng có một không hai ấy mới thấm thía được lời bình của Vũ Ngọc Phan “văn Nguyễn Tuân không dành cho những người nông nổi thưởng thức”. Trước hết ta cùng đi tìm và khám phá những điểm tương đồng trong hai cảnh tượng kinh điển ấy. Nguyễn Tuân là một nhà văn “Duy mỹ”, một nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp và mang lên trang giấy những viên ngọc quý bằng những ngôn ngữ chắt lọc tinh túy, thứ tinh túy mà có lần một nhà phê bình nào đó từng nói ông là một “nhà luyện đan ngôn từ”. Trong hành trình “xê dịch” đi tìm cái đẹp, trước sau Nguyễn Tuân vẫn giữ phong cách tài hoa nghệ sĩ. Ông khám phá sự vật ở phương diện văn hóa thẩm mỹ, con người ở phương diện tài hoa nghệ sĩ. Trên phương diện ấy, con người hiện lên thật đẹp.

Cả hai hình tượng nhân vật: Huấn Cao và ông đò đều là những con người mang trong mình cốt cách tài hoa nghệ sĩ. Cho dù họ ở những giai đoạn, tầng lớp khác nhau, làm những công việc khác nhau nhưng đều là đối tượng của cái đẹp trong văn Nguyễn Tuân. Với Nguyễn Tuân, Huấn Cao trong cảnh cho chữ hiện lên với vẻ đẹp của tài thư pháp, của thiên lương, khí phách; ông đò trong vượt thác lại được thể hiện qua tài nghệ tay lái ra hoa trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh. Trong sự tương đồng giữa hai nhân vật, hai cảnh tượng ấy, ta còn thấy sự uyên bác của Nguyễn Tuân được thể hiện qua việc ông vận dụng vốn hiểu biết sâu rộng về nhiều lĩnh vực: văn hóa, lịch sử, địa lý, điện ảnh, hội họa, quân sự, võ thuật…

Hệ thống kiến thức sâu rộng ấy được ông huy động, vận dụng vào bút pháp miêu tả cảnh cho chữ làm cho nó trở nên thiêng liêng bi tráng, làm sống lại trong ký ức của người đọc về vẻ đẹp một thời vang bóng với thú chơi thư pháp vốn là hồn cốt của dân tộc. Cảnh ấy dưới ngòi bút của Nguyễn thật đẹp, thật cảm động. Cũng bằng hệ thống kiến thức ấy, Nguyễn như đưa ta về với sông Đà với biết bao tướng dữ quân tợn. Trên đó hiên ngang một người lái đò như vị tướng tài ba đang thi thố tài năng của mình với đội quân sông Đà tinh nhuệ và đầy hiểm nguy.

Nguyễn Tuân là người luôn không thỏa mãn với ngòi bút của mình. Cuộc đời ông gắn liền với một chữ “Ngông”. Ngông từ con người “cái râu cái tóc không giống ai”. Đến cái ngông trong văn chương, viết cũng không giống ai. Đặc biệt có cảm hứng đối với những cảnh tượng tạo cảm giác mãnh liệt. Ông là nhà văn của những tình cảm lớn, những cảm giác mạnh, trong hai cảnh tượng “vượt thác” và “cho chữ” đều truyền đến cho người đọc những rung cảm mãnh liệt. Thủ pháp tương phản thường được ông vận dụng để tô đậm những cảnh tượng gây ấn tượng dữ dội. Trong cảnh cho chữ ông Huấn đã cho chữ trong hoàn cảnh ngục tù tăm tối, cổ đeo gông, chân vướng xiềng nhưng cái đẹp vẫn từ đó bay lên tỏa sáng. Trong cảnh vượt thác, ông lái đò bé nhỏ giữa thiên nhiên hung bạo, đầy tiếng thác gào, những ghềnh đá, hút nước khổng lồ, thạch trận giăng lưới.

Nhưng cuối cùng, trong cảm giác mãnh liệt ấy, con người vượt lên trên sự bình thường để phi thường, kiêu bạc. Đằng sau những điểm tương đồng ấy trong bút pháp và cảm quan nghệ thuật. Ở hai cảnh tượng vượt thác và cảnh cho chữ lại hiện lên với những vẻ đẹp riêng, thể hiện điểm khác biệt giữa hai chặng đường văn học mà Nguyễn Tuân đã trải qua.


Trong tác phẩm Chữ người tử tù, Nguyễn Tuân đã rất dụng công vào việc miêu tả bức tranh cho chữ “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Nhà văn đã ngụp lặn về quá khứ, đứng trong cái nhìn của người hiện tại mà nuối tiếc mà ngưỡng mộ một cảnh tượng, một thú chơi tao nhã từng một thời làm say lòng người. Giây phút được sống lại quá khứ đã làm cho các nhân vật của Nguyễn Tuân như đội lên cả một hào quang lấp lánh khiến cho cảnh tượng cho chữ trở thành một trong những cảnh tượng đẹp nhất trong lịch sử.

Từ hai kẻ đối nghịch nhau, sự cảm thông, niềm đồng cảm nghệ thuật đã đưa Huấn Cao và Quản ngục đến với nhau. Liệu con người tài hoa Huấn Cao trước khi từ giã cõi đời có kịp để lại cho đời những dòng chữ cuối cùng? Đặt trong dòng cốt truyện, trong kết cấu của tác phẩm, cảnh cho chữ có vai trò “cởi nút”, giải tỏa. Từ đây, nổi bật lên vẻ đẹp kỳ vĩ của nhân vật, nổi bật lý tưởng thẩm mỹ của người nghệ sĩ Nguyễn Tuân. Đúng như nhận định của Nguyễn Tuân: Cảnh cho chữ - “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”. Vì sao lại như vậy? Vì Thư pháp là một thú chơi tao nhã mang nét đẹp của văn hóa phương Đông. Nó thường diễn ra trong thư phòng hoặc trong khung cảnh sơn thủy hữu tình, trời trong gió mát, có trà, có rượu, có hoa… Vậy mà cảnh cho chữ ở đây lại diễn ra trong đêm khuya, ngay trong nhà giam tăm tối chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, nền đầy phân chuột phân gián…Trái ngược với những cái tăm tối bẩn thỉu ấy, nổi bật lên ánh sáng đỏ rực của một bó đuốc, khói tỏa ra như đám cháy nhà, tấm lụa trắng tinh, chậu mực thơm... thật đúng là một hoàn cảnh, thời gian, không gian “xưa nay chưa từng có”. Cảnh tượng ấy là chiếc phông nền trên một sân khấu mà Huấn Cao là diễn viên chính, hai nhân vật còn lại là Ngục quan và Thơ lại đóng vai trò thứ yếu. Tất cả đang làm nền cho một cái đẹp đang sắp sửa thăng hoa. Tư thế của người cho chữ và nhận chữ lại càng “chưa từng có” hơn nữa: Người cho chữ là kẻ tử tù chỉ sáng sớm mai đã ra pháp trường, vậy mà giờ đây cổ vẫn “đeo gông, chân vướng xiềng” đang dậm tô những nét chữ vuông tươi tắn trên tấm lụa bạch trắng tinh còn nguyên vẹn lần hồ. Những thứ gông xiềng quái ác ấy tưởng như sẽ làm lu mờ đi cái đẹp có ngờ đâu lại càng tô đậm lên vẻ đẹp hiên ngang, hành động nghĩa hiệp, thiêng liêng của người cho chữ. Tương phản với tư thế, hành động này là người được nhận chữ: viên quản ngục lại khúm núm, thầy thơ lại gầy gò thì run run bưng chậu mực. Trong cảnh này có rất nhiều điều trái với trật tự thông thường: nhà lao – nơi ngự trị của bóng tối, cái xấu, cái ác trở thành nơi để sáng tạo nghệ thuật – sản sinh ra cái Đẹp; người tù vượt lên sự trói buộc của gông xiềng trở thành người nghệ sĩ với niềm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật mãnh liệt, ông hiện lên một cách uy nghi, đĩnh đạc, đường hoàng. Đó chính là sự lên ngôi của cái đẹp giữa chốn ngục tù, là chiến thắng của cái Đẹp, cái cao thượng, cái thiên lương trong lành đối với những cái xấu, cái ác, cái thấp hèn. Hai con người ở những vị trí đối kháng trở thành hai người bạn tri âm.


Cái Đẹp đã đưa họ đến với nhau, không còn ranh giới giữa phạm nhân và quan coi ngục mà là một tấm lòng đáp lại một tấm lòng. Vì thực sự coi nhau là tri âm, cho chữ xong, Huấn Cao còn đỡ quản ngục dậy và nói với ông những lời khuyên chân thành, tâm huyết: “Thầy Quản nên tìm về quê mà ở, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đã rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Ngục quan cảm động, chắp tay vái người tù: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Thái độ của Huấn Cao thể hiện vẻ đẹp văn hóa và tinh thần nghĩa hiệp sáng ngời của một tấm lòng bè bạn, lời khuyên của Huấn Cao mang ý nghĩa sâu sắc: Cái Đẹp không thể chung sống với cái ác, cái xấu, cái gốc của chữ nghĩa chính là thiên lương, người nghệ sĩ say mê cái đẹp trước hết phải giữ được thiên lương. Trước lúc giã từ cõi đời, Huấn Cao đã để lại lời di huấn ấy với niềm thiết tha mong mỏi con người còn sống sáng ra lẽ đó. Niềm mong mỏi ấy không phải chỉ có thời ông Huấn mà đến hôm nay nó vẫn còn nguyên giá trị.

Đó cũng chính là lý tưởng thẩm mỹ của Nguyễn Tuân về sự thống nhất giữa TÂM và TÀI, giữa THIỆN và MỸ. Và để tạo nên sự “chưa từng có ấy”, Nguyễn Tuân đã huy động vốn nghệ thuật uyên thâm của mình để tạo dựng. Bút pháp tương phản rất đậm nét: bóng tối đối lập với ánh sáng làm nên cảnh cho chữ đậm nét bi tráng, thiêng liêng từ đường nét đến màu sắc đến hình ảnh. Đoạn văn đã thể hiện tài nghệ của Nguyễn Tuân trong việc dựng cảnh, tạo không khí, giọng văn trang trọng, cổ kính, vận dụng khai thác triệt để thủ pháp tương phản để dựng nên một cảnh tượng đúng là “xưa nay chưa từng có, cảnh cho chữ là một trong những áng văn đẹp nhất của văn học Việt Nam hiện đại, là một điểm sáng góp phần không nhỏ làm nên thành công cho tác phẩm Chữ người tử tù. Cảnh cho chữ đem đến một kết thúc có hậu, giúp người đọc thêm yêu mến một nét đẹp trong văn hóa dân tộc, cảm phục trước một tài năng, nhân cách cao cả, gieo vào lòng người một niềm tin bất diệt vào chiến thắng của thiên lương.


Nếu cảnh cho chữ là cảnh tượng xưa nay chưa từng có dã làm sống lại ánh hào quang một thời của nghệ thuật thư pháp thì cảnh vượt thác trong Người lái đò sông Đà lại là bức tranh phi thường về sức mạnh và ý chí của con người trong cuộc đấu tranh với lực lượng tự nhiên để sinh tồn. Ông đò trong tác phẩm là một người lao động, là hình ảnh của con người Tây Bắc trong công cuộc lao động, xây dựng cuộc sống mới, đồng thời cũng là một nghệ sĩ trong nghệ thuật vượt thác leo ghềnh. Tác giả đã miêu tả ông đò trong thế tương phản với thế lực thiên nhiên hùng hậu: sông Đà – một nhân vật vô cùng sống động – mang diện mạo và tâm địa của thứ kẻ thù số một đối với con người (diện mạo đó được thể hiện qua địa thế hiểm trở: Bờ đá, ghềnh, xoáy nước, đang lồng lộn giữa rừng tre nứa đỏ lửa… Đáng gờm hơn cả là tâm địa của nó qua cách bày binh bố trận nham hiểm với vô số những boong-ke chìm, pháo đài đá nổi, ba lớp trùng vi thạch trận.


Đọc “Người lái đò Sông Đà” đến cảnh vượt thác ta lại không quên hình ảnh ông già Xantiago giữa đại dương bao la, một mình đánh bại con cá kiếm khổng lồ vừa phải đương đầu cới lũ cá mập hung dữ. Con người giữa thiên nhiên ấy thật đẹp, thật hào hùng biết bao. Cảnh ấy với cảnh vượt thác này có lẽ cả hai nhà văn không nằm ngoài ý đồ ngợi ca sức mạnh và ý chí của con người “con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại”. Cảnh vượt thác chính là tâm điểm nóng nhất, một trận thủy chiến vô cùng ác liệt, gay cấn, đầy không khí chiến trận, từ đó làm nổi bật vẻ đẹp của ông đò: người lao động – nghệ sĩ tài ba.


Tam trùng vi thạch trận mà sông Đà bày bố có thể nói là đối đầu với nó chỉ từ chết đến chết mà thôi. Vì ở đó, đội quân tinh nhuệ nhất được bày binh bố trận, cửa tử nhiều hơn cửa sinh. Từ đó ta thấy cảnh vượt thác cũng là cảnh “xưa nay chưa từng có”: Sông Đà trước hết đánh người lái đò ở mặt trận ngoại giao. Nó dùng đòn tâm lý chiến ngay từ lúc người lái đò còn ở xa. Tiếng nước thác theo từng lúc mà thăm dò, có lúc nó “như oán trách”, có lúc nghe “như là van xin”. Sau khi không thành công ở đòn tâm lý ấy, nó giở giọng khiêu khích “giọng gằn mà chế nhạo”. Để rồi ngay sau đó, Sông Đà bộc lộ bản năng hung bạo và tâm địa độc ác nham hiểm của nó bằng cách “rống lên như tiếng của một đàn trâu mộng đang phá tuông rừng lửa. Rừng lửa cùng đàn trâu da cháy bùng bùng”. Tiếng đó là đòn uy hiếp, kẻ non gan sẽ dại tay ra để con thủy quái này nuốt chửng nhưng với người lái đò thì không. Cảnh hỗn chiến ác liệt diễn ra “mặt nước hò la vang dậy, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo, sóng nước như thể quân liều mạng xông vào mà “đá trái” mà “thúc gối vào bụng và hông thuyền… Có lúc chúng đội cả thuyền lên”. Nhưng ông lái đò cũng không phải là tay vừa, cả đời ông đã kinh qua những đòn đánh này vì thế cho nên, ông bình tĩnh giữ cho thuyền không bị hất lên khỏi sóng. Không xoay chuyển được người lái đò, sóng thác đã đánh miếng đòn hiểm độc nhất là bóp chặt lấy hạ bộ người lái đò. Bị trúng miếng hiểm “khiến cho ông đò đau điếng mặt méo bệch đi”. Mắt hoa lên tưởng như thấy cả “một bầy đom đóm rừng ùa xuống châm lửa lên đầy sóng”.


Nguy hiểm là vậy nhưng ông lái đò vẫn cố nén vết thương, hai chân kẹp chặt cuống lái, bình tĩnh thoát khỏi nguy hiểm. Vậy là phá xong cái trùng vi thạch trận thứ nhất. Thế nhưng trận chiến chưa dừng ở đó mà mỗi lúc càng quyết liệt hơn. Sông Đà quyết không buông tha đối thủ, ở trùng vi thứ hai nó huy động một đội quân thiện chiến đủ đầy cả tướng dữ quân tợn. Bao vây tứ phía là những cửa tử. Không một chút nghỉ tay nghỉ mắt, phải phá luôn vòng vây thứ hai và phải thay đổi chiến thuật. Nhờ kinh nghiệm già dặn, ông đã nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá, nắm vững quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước nguy hiểm này. Giữa lúc “dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá”. Ông lái đò bắt đầu cuộc tấn công bằng cách “nắm chặt được cái bờm sóng đúng luồng rồi” ông cho con thuyền “phóng nhanh vào cửa sinh mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy”. Bọn tướng đá, đứa thì “ông tránh mà rảo bơi chèo lên”, đứa thì bị “ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến”. Cuối cùng ông thắng còn bọn đá tướng thất bại thảm hại “tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng”. Thật cao cường biết bao! Trùng vi thứ ba, bên phải bên trái đều là “luồng chết cả”. Đã vậy, còn bố trí luồng sống ngay giữa bọn đá hậu vệ”. Ông lái đò cũng rất nhanh trí đang đà nước lớn, ông “phóng thẳng con thuyền, chọc thủng cửa giữa đó” rồi đưa thuyền “vút qua cổng đá cánh mở cánh khép”. Ông giống như một cung thủ đưa “Chiếc thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái lượn được”. Thế là hết thác. Thật là tài tình hết chỗ nói.


Tài nghệ lái đò vượt thác như ông cũng được xếp vào bậc siêu phàm xưa nay chưa từng có! Đọc đến đây ta mới có cảm giác vỡ òa, thở phào nhẹ nhõm. Đoạn văn huy động sức mạnh của quan sát, tưởng tượng, liên tưởng, các phép nhân hóa, so sánh, tương phản được vận dụng linh hoạt, ngôn ngữ phong phú, giàu tính tạo hình, vận dụng kiến thức nhiều ngành nghệ thuật, đặc biệt là quân sự, võ thuật, tác giả tạo nên một cảnh chiến trận giàu kịch tính, tạo cảm giác mãnh liệt. Sông Đà hùng hậu, hung bạo, lắm mưu nhiều kế, ông đò bé nhỏ giữa muôn trùng sóng nước nhưng có trí lực, tài nghệ phi thường. Hàng loạt những động từ mạnh thể hiện sự cuồng nộ của sông Đà. Cảnh vượt thác có thể xem là đoạn hay nhất trong bản anh hùng ca, ca ngợi trí dũng tuyệt vời của con người lao động trên miền sông nước.


Qua hai cảnh tượng ấy, ta thấy ở Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng có nhiều nét đổi mới:

Trước cách mạng, ông tìm về cái đẹp vang bóng một thời đã lùi vào quá khứ, ở các bậc siêu phàm, tái hiện lại trên trang văn những thú vui tao nhã, những con người tài hoa, tài tử bất đắc chí.


Sau cách mạng ông đã phát hiện và ngợi ca cái đẹp trong đời sống thực tại của đất nước, nhân dân lao động mà ông lái đò Tây Bắc là tiêu biểu cho cái đẹp đó. Ngày trước ông đem cái tài hoa uyên bác để chống đối, phủ nhận thực tại đen tối, giờ đây, ông dùng nó để kiếm tìm và khẳng định những vẻ đẹp trong xã hội mới (chất vàng mười). Sở dĩ có sự khác nhau như vậy vì trước cách mạng, Nguyễn Tuân cũng như bao nhiêu nhà văn khác không tìm thấy lối thoát trong thực tại nên đã trốn vào quá khứ, chối bỏ thực tại đầy những nhiễu nhương, nhỡn tiền.

Sau cách mạng, thời thế đổi thay, cách mạng đã mở ra con đường sáng cho con người, cho dân tộc. Các nhà văn đã hăm hở đi theo ánh sáng ấy, trong đó có Nguyễn Tuân. Trước đây ông tuyệt đối hóa cái phi thường, nay ông phát hiện sự thống nhất giữa cái phi thường và bình thường.


Ngôn ngữ trước đây cổ kính, đài các, giọng văn ngang tàng, kiêu bạc, nay hiện đại, gắn với đời thường. Sự thay đổi đó làm cho văn Nguyễn Tuân vẫn tài hoa uyên bác mà không ngông ngạo, tài hoa uyên bác mà đôn hậu tin yêu. Ông được mệnh danh là “thầy phù thủy của ngôn ngữ”. Ở cả hai cảnh trong hai tác phẩm đã khẳng định tài nghệ đó của ông.


Nguyễn Tuân xứng đáng là bậc kỳ tài xưa nay hiếm trong nền văn học nước nhà. Tóm lại, hai cảnh tượng “xưa nay chưa từng có” trong cảnh vượt thác của ông lái đò và cảnh cho chữ của Huấn Cao, Nguyễn Tuân rất xứng đáng là nhà văn tài hoa nghệ sĩ – niềm tự hào của Văn học Việt Nam. Đúng như lời của nhà phê bình Vũ Ngọc Phan “Văn của Nguyễn Tuân không dùng cho những người nông nổi thưởng thức”.


Bài Tham khảo của Thầy Phan Danh Hiếu

Diễn đàn kiến thức vui học mỗi ngày
 

Bài Trước

Cảm nhận về chất anh hùng qua hai nhân vật Tnú -Rừng xà nu và Việt - Những đứa con trong gia đình

Bài Tiếp

Đề thi thử chính thức theo Bộ môn Văn 2017