DreamHigh 18

Administrator
VẤN ĐỀ DÂN TỘC DƯỚI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM ĐƯỢC CHÚ TRỌNG NHƯ THẾ NÀO
Vấn đề dân tộc là một nội dung có ý nghĩa chiến lược của chủ nghĩa Mác - Lênin và của cách mạng xã hội chủ nghĩa; là vấn đề thực tiễn nóng bỏng đòi hỏi phải được giải quyết một cách đúng đắn và thận trọng.


DÂN TỘC VÀ HAI XU HƯỚNG KHÁCH QUAN CỦA SỰ PHÁT TRIỂN CÁC DÂN TỘC

Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của dân tộc

Cũng như nhiều hình thức cộng đồng khác, dân tộc là sản phẩm của một quá trình phát triển lâu dài của xã hội loài người. Trước khi dân tộc xuất hiện, loài người đã trải qua những hình thức cộng đồng từ thấp đến cao: thị tộc, bộ lạc, bộ tộc.

Ở phương Tây, dân tộc xuất hiện khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác lập và thay thế vai trò của phương thức sản xuất phong kiến. Chủ nghĩa tư bản ra đời trên cơ sở của sự phát triển sản xuất và trao đổi hàng hoá đã làm cho các bộ tộc gắn bó với nhau. Nền kinh tế tự cấp, tự túc bị xoá bỏ, thị trường có tính chất địa phương nhỏ hẹp, khép kín được mở rộng thành thị trường dân tộc. Cùng với quá trình đó, sự phát triển đến mức độ chín muồi của các nhân tố ý thức, văn hoá, ngôn ngữ, sự ổn định của lãnh thổ chung đã làm cho dân tộc xuất hiện. Chỉ đến lúc đó tất cả lãnh địa của các nước phương Tây mới thực sự hợp nhất lại, tức là chấm dứt tình trạng cát cứ phong kiến và dân tộc được hình thành.

Ở một số nước phương Đông, do tác động của hoàn cảnh mang tính đặc thù, đặc biệt do sự thúc đẩy của quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước, dân tộc đã hình thành trước khi chủ nghĩa tư bản được xác lập. Loại hình dân tộc tiền tư bản đó xuất hiện trên cơ sở một nền văn hoá, một tâm lý dân tộc đã phát triển đến độ tương đối chín muồi, nhưng lại dựa trên cơ sở một cộng đồng kinh tế tuy đã đạt tới một mức độ nhất định nhưng nhìn chung còn kém phát triển và còn ở trạng thái phân tán.

Cho đến nay, khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất:

Một là, chỉ cộng đồng người có mối liên hệ chặt chẽ và bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ riêng và những nét văn hoá đặc thù; xuất hiện sau bộ lạc, bộ tộc; kế thừa, phát triển cao hơn những nhân tố tộc người ở bộ lạc, bộ tộc và thể hiện thành ý thức tự giác tộc người của dân cư cộng đồng đó.Theo nghĩa thứ nhất, dân tộc được hiểu như một tộc người hay một dân tộc trong một quốc gia đa dân tộc. Với nghĩa hiểu này, Việt Nam gồm 54 dân tộc hay 54 tộc người.

Hai là, chỉ một cộng đồng người ổn định hợp thành nhân dân một nước, có lãnh thổ, quốc gia, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung và có ý thức về sự thống nhất quốc gia của mình, gắn bó với nhau bởi lợi ích chính trị, kinh tế, truyền thống văn hoá và truyền thống đấu tranh chung trong suốt quá trình lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Theo nghĩa thứ hai, dân tộc đồng nghĩa với quốc gia - dân tộc. Theo nghĩa này, có thể nói dân tộc Việt Nam, dân tộc Trung Hoa, v.v..

Với nghĩa thứ nhất, dân tộc là một bộ phận của quốc gia; với nghĩa thứ hai, dân tộc là toàn bộ nhân dân của quốc gia đó - quốc gia dân tộc. Dưới giác độ môn học chủ nghĩa xã hội khoa học, dân tộc được hiểu theo nghĩa thứ nhất. Tuy nhiên, chỉ khi đặt nó bên cạnh nghĩa thứ hai, trong mối liên hệ với nghĩa thứ hai thì sắc thái nội dung của nó mới bộc lộ đầy đủ.

Dân tộc thường được nhận biết thông qua những đặc trưng chủ yếu sau đây:

+ Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc.

+ Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em. Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước.

+ Có ngôn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng (trên cơ sở ngôn ngữ chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, tình cảm...

+ Có nét tâm lý riêng (nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền văn hoá dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hoá dân tộc, gắn bó với nền văn hoá của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc).

Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đủ các đặc trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định. Sự tổng hợp các đặc trưng nêu trên làm cho các cộng đồng dân tộc được đề cập ở đây - về thực chất là một cộng đồng xã hội - tộc người, trong đó những nhân tố tộc người đan kết, hoà quyện vào các nhân tố xã hội. Điều đó làm cho khái niệm dân tộc khác với các khái niệm sắc tộc, chủng tộc - thường chỉ căn cứ vào các đặc điểm tự nhiên, chẳng hạn màu da hay cấu tạo tự nhiên của các bộ phận trong cơ thể để phân loại cộng đồng người.

Nghiên cứu khái niệm và các đặc trưng của dân tộc cần thấy rằng: khái niệm dân tộc và khái niệm quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau. Bởi vì, dân tộc ra đời trong một quốc gia nhất định, thông thường thì những nhân tố hình thành dân tộc chín muồi không tách rời với sự chín muồi của những nhân tố hình thành quốc gia – chúng bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau.

Nếu như cộng đồng thị tộc (trong xã hội nguyên thuỷ) mang tính thuần tuý tộc người, trong đó quan hệ huyết thống còn đóng vai trò chi phối tuyệt đối, thì ở cộng đồng bộ lạc và liên minh bộ lạc (xuất hiện vào cuối xã hội nguyên thuỷ) đã xuất hiện dưới dạng đầu tiên những thiết chế chính trị – xã hội, trong đó những quan hệ tộc người xen với những quan hệ chính trị – xã hội. Cộng đồng bộ tộc xuất hiện vào thời kỳ xã hội có sự phân chia rõ rệt hơn về giai cấp và sau đó là sự xuất hiện nhà nước – quốc gia. Từ đây, sự cố kết bộ tộc là nhân tố quan trọng trong sự hình thành và củng cố quốc gia; ngược lại, sự hình thành, củng cố quốc gia là điều kiện có ý nghĩa quyết định sự củng cố và phát triển của cộng đồng bộ tộc, là sự chuẩn bị quan trọng nhất để cộng đồng bộ tộc chuyển lên một hình thức cao hơn – tức là dân tộc.

Tính tộc người và tính chính trị - xã hội đó ghi đậm vào tâm trí của đông đảo dân cư ý thức gắn bó quyền lợi và nghĩa vụ của mình với dân tộc, với nhà nước, quốc gia. Tình cảm đối với dân tộc hoà nhập vào tình cảm đối với Tổ quốc và trở thành một trong những giá trị thiêng liêng, bền vững của nhiều thế hệ con người ở nhiều dân tộc, quốc gia. Tình cảm ấy xuất hiện và được củng cố trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước lâu dài, trở thành nét truyền thống đặc sắc của các dân tộc, quốc gia đó.

Nhận thức vấn đề này không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Bởi vì, công cuộc cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới – từ cơ sở kinh tế đến kiến trúc thượng tầng và các quan hệ xã hội không thể thiếu nội dung cải tạo, xây dựng cộng đồng dân tộc và các mối quan hệ dân tộc. Ngược lại, việc cải tạo, xây dựng cộng đồng dân tộc và các mối quan hệ dân tộc không thể tách rời công cuộc cải tạo, xây dựng toàn diện xã hội mà trước hết là xây dựng chế độ chính trị - xã hội, xây dựng nhà nước theo con đường tiến bộ.

Dân tộc xã hội chủ nghĩa chỉ xuất hiện do kết quả của sự cải tạo, xây dựng từng bước cộng đồng dân tộc và các mối quan hệ dân tộc theo các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học. Đồng thời, dân tộc xã hội chủ nghĩa chỉ có thể xuất hiện do kết quả của công cuộc cải tạo, xây dựng toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội để từng bước củng cố chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, trong thực tiễn, không nên xem nhẹ hoặc làm lu mờ những nhân tố dân tộc tồn tại lâu dài trong một cộng đồng quốc gia gồm nhiều dân tộc. Nhân tố dân tộc đó được biểu hiện nổi bật nhất trong văn hoá, nghệ thuật, ngôn ngữ, phong tục, tập quán, tâm lý và tình cảm; chúng hoà quyện vào nhau tạo thành một thể thống nhất trong đa dạng về bản sắc dân tộc; là căn cứ chủ yếu để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác. Điều đó đòi hỏi nhà nước xã hội chủ nghĩa trong khi hoạch định và thực hiện mọi chính sách chung của quốc gia, cần chú ý đến tính đặc thù của cộng đồng gồm nhiều dân tộc, hơn nữa, cần có những chính sách riêng đáp ứng những đòi hỏi chính đáng mang tính đặc thù của từng dân tộc.

Hai xu hướng của sự phát triển các dân tộc và biểu hiện của hai xu hướng khách quan đó trong thời đại ngày nay

Nghiên cứu vấn đề dân tộc và phong trào dân tộc trong điều kiện của chủ nghĩa tư bản, V.I. Lênin đã phát hiện ra hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc.

Xu hướng thứ nhất, do sự thức tỉnh, sự trưởng thành của ý thức dân tộc mà các cộng đồng dân cư muốn tách ra để xác lập các cộng đồng dân tộc độc lập. Trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, ở các quốc gia gồm nhiều cộng đồng dân cư có nguồn gốc tộc người khác nhau. Khi mà các tộc người đó có sự trưởng thành về ý thức dân tộc, ý thức về quyền sống của mình, các cộng đồng dân cư đó muốn tách ra thành lập các dân tộc độc lập. Vì họ hiểu rằng, chỉ trong cộng đồng độc lập, họ mới có quyền quyết định vận mệnh của mình mà quyền cao nhất là quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển. Trong thực tế, xu hướng này đã biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc, thành lập các quốc gia dân tộc độc lập. Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản và vẫn còn tác động trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa.

Xu hướng thứ hai, các dân tộc trong từng quốc gia, thậm chí các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau. Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hoá trong xã hội tư bản đã làm xuất hiện nhu cầu xoá bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, tạo nên mối liên hệ quốc gia và quốc tế rộng lớn giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau.

Hai xu hướng này vận động trong điều kiện của chủ nghĩa đế quốc gặp nhiều trở ngại. Bởi vì, nguyện vọng của các dân tộc được sống độc lập, tự do bị chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc xoá bỏ. Chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc đã biến hầu hết các dân tộc nhỏ bé hoặc còn ở trình độ lạc hậu thành thuộc địa và phụ thuộc của nó. Xu hướng các dân tộc xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng bị chủ nghĩa đế quốc phủ nhận. Thay vào đó họ áp đặt lập ra những khối liên hiệp nhằm duy trì áp bức, bóc lột đối với các dân tộc khác, trên cơ sở cưỡng bức và bất bình đẳng.

Vì vậy, chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, chỉ trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, khi chế độ người bóc lột người bị xoá bỏ thì tình trạng dân tộc này áp bức, đô hộ các dân tộc khác mới bị xoá bỏ và chỉ khi đó hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc mới có điều kiện để thể hiện đầy đủ. Quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là sự quá độ lên một xã hội thực sự tự do, bình đẳng, đoàn kết hữu nghị giữa người và người trên toàn thế giới.

Hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc do V.I. Lênin phát hiện đang phát huy tác dụng trong thời đại ngày nay với những biểu hiện rất phong phú và đa dạng.

* Xét trong phạm vi các quốc gia xã hội chủ nghĩa có nhiều dân tộc:

Xu hướng thứ nhất biểu hiện trong sự nỗ lực của từng dân tộc để đi tới sự tự chủ và phồn vinh của bản thân dân tộc mình. Xu hướng thứ hai tạo nên sự thúc đẩy mạnh mẽ để các dân tộc trong cộng đồng quốc gia xích lại gần nhau hơn, hoà hợp với nhau ở mức độ cao hơn trong mọi lĩnh vực của đời sống.

Ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, hai xu hướng phát huy tác động cùng chiều, bổ sung, hỗ trợ cho nhau và diễn ra trong từng dân tộc, trong cả cộng đồng quốc gia và đến tất cả các quan hệ dân tộc. Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các dân tộc sẽ tạo điều kiện cho từng dân tộc đi nhanh tới sự tự chủ và phồn vinh. Bởi vì, nó sẽ tạo điều kiện cho dân tộc đó có thêm những điều kiện vật chất và tinh thần để hợp tác chặt chẽ hơn với các dân tộc anh em; đồng thời nó cho phép mỗi dân tộc không chỉ sử dụng tiềm năng của các dân tộc mình mà còn có sự gắn kết hữu cơ với tiềm năng của các dân tộc anh em trong một nước để tiến lên phía trước. Sự xích lại gần nhau giữa các dân tộc trong cùng quốc gia có nghĩa là những tinh hoa, những giá trị của các dân tộc đó thâm nhập vào nhau, bổ sung, hoà quyện vào nhau để tạo thành những giá trị chung. Tuy nhiên, sự hoà quyện đó không xoá bỏ sắc thái của từng dân tộc, không xoá nhoà những đặc thù dân tộc; ngược lại, nó bảo lưu, gìn giữ và phát huy những tinh hoa, bản sắc của từng dân tộc. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, cả hai xu hướng trên đều loại trừ các tư tưởng và hành vi kỳ thị dân tộc, chia rẽ dân tộc, tự ti dân tộc, dân tộc hẹp hòi, xung đột dân tộc. Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã khẳng định: “Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta. Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật, nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc”
. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.98.
.


Mọi sự vi phạm quan hệ biện chứng giữa hai xu hướng khách quan nêu trên đều dẫn đến những hậu quả tiêu cực.

* Xét trên phạm vi thế giới, sự tác động của hai xu hướng khách quan thể hiện rất nổi bật. Bởi vì:

Thời đại ngày nay là thời đại các dân tộc bị áp bức đã vùng dậy, xoá bỏ ách đô hộ của chủ nghĩa đế quốc và giành lấy sự tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình, bao gồm quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc, quyền bình đẳng với các dân tộc khác. Đây là một trong những mục tiêu chính trị chủ yếu của thời đại – mục tiêu độc lập dân tộc.

Xu hướng này biểu hiện trong phong trào giải phóng dân tộc thành sức mạnh chống chủ nghĩa đế quốc và chính sách của chủ nghĩa thực dân mới dưới mọi hình thức. Xu hướng này cũng biểu hiện trong cuộc đấu tranh của các dân tộc nhỏ bé đang là nạn nhân của sự kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, đang bị coi là đối tượng của chính sách đồng hoá cưỡng bức ở nhiều nước tư bản.

Như vậy, độc lập tự chủ của mỗi dân tộc là xu hướng khách quan, là chân lý thời đại, là sức mạnh hiện thực tạo nên quá trình phát triển của mỗi dân tộc, sẽ làm tiêu tan tất cả những gì cản trở nó.

Thời đại ngày nay còn có xu hướng các dân tộc muốn xích lại gần nhau để trở lại hợp nhất thành một quốc gia thống nhất theo nguyên trạng đã được hình thành trong lịch sử. Xu hướng đó tạo nên sức hút các dân tộc vào các liên minh được hình thành trên những cơ sở lợi ích chung nhất định. Các dân tộc có những lợi ích mang tính khu vực, dựa trên yếu tố gần nhau về địa lý, giống nhau về môi trường thiên nhiên, tương đồng về một số giá trị văn hoá, trùng hợp nhau về lịch sử và hiện tại trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung bên ngoài.

Đặc biệt vào những năm 90 của thế kỷ XX, xu hướng "tập đoàn hoá" ở các khu vực của thế giới tăng lên rõ rệt không chỉ do tác động của lợi ích kinh tế mà còn do sức thúc đẩy của các lợi ích chính trị. Hơn nữa, sự liên minh đó còn tạo nên sức hút trên toàn cầu nhằm tập trung giải quyết những vấn đề chung của cả nhân loại như: chống nguy cơ chiến tranh hạt nhân, chống ô nhiễm và bảo vệ môi trường sinh thái, khắc phục nạn đói xảy ra thường xuyên ở nhiều nơi trên thế giới, kế hoạch hoá sự phát triển dân số và bảo vệ sức khoẻ... Lợi ích toàn cầu có tác động sâu xa gắn bó loài người trong một quá trình vận động thống nhất, bởi vì các dân tộc quốc gia trên thế giới hiện nay còn đang ở trình độ phát triển khác nhau và đang cần sự hỗ trợ nhau để cùng tiến bộ.

Nhận rõ điều này, mỗi dân tộc, quốc gia phải biết thực hiện chính sách độc lập tự chủ để mở cửa hội nhập vào dòng vận động chung của nhân loại; đồng thời phải tìm được giải pháp hữu hiệu để gìn giữ, phát huy bản sắc của dân tộc mình.

Dựa trên sự phân tích hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc trong thời đại hiện nay, Đảng ta đã khẳng định: “Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ đối ngoại”
. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr. 84.
là nguyên tắc thống nhất của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.


NỘI DUNG CƯƠNG LĨNH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN

Dựa trên cơ sở tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về vấn đề dân tộc; dựa vào sự tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của phong trào cách mạng thế giới và cách mạng Nga; phân tích sâu sắc hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc gắn liền với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, nhất là khi đã bước vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I. Lênin đã khái quát lại thành "Cương lĩnh dân tộc" của Đảng cộng sản. Trong tác phẩm Về quyền dân tộc tự quyết, Người nêu rõ: "Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại".

Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng

Đây là quyền thiêng liêng của các dân tộc trong mối quan hệ giữa các dân tộc. Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng có nghĩa là: các dân tộc lớn hay nhỏ (kể cả bộ tộc và chủng tộc) không phân biệt trình độ phát triển cao hay thấp đều có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau; không một dân tộc nào được giữ đặc quyền đặc lợi và có quyền đi áp bức bóc lột dân tộc khác, thể hiện trong luật pháp của mỗi nước và luật pháp quốc tế.

Trong một quốc gia có nhiều dân tộc, quyền bình đẳng giữa các dân tộc phải được pháp luật bảo vệ và được thể hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó việc phấn đấu khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá do lịch sử để lại có ý nghĩa cơ bản.

Trên phạm vi giữa các quốc gia - dân tộc, đấu tranh cho sự bình đẳng giữa các dân tộc trong giai đoạn hiện nay gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa sôvanh; gắn liền với cuộc đấu tranh xây dựng một trật tự kinh tế thế giới mới; chống sự áp bức bóc lột của các nước tư bản phát triển đối với các nước chậm phát triển về kinh tế.

Thực hiện quyền bình đẳng giữa các dân tộc là cơ sở để thực hiện quyền dân tộc tự quyết và xây dựng mối quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa các dân tộc.

Các dân tộc được quyền tự quyết

Quyền dân tộc tự quyết là quyền làm chủ của mỗi dân tộc đối với vận mệnh dân tộc mình, quyền tự quyết định chế độ chính trị – xã hội và con đường phát triển của dân tộc mình. Quyền tự quyết bao gồm quyền tự do độc lập về chính trị tách ra thành lập một quốc gia dân tộc độc lập vì lợi ích của các dân tộc (chứ không phải vì mưu đồ và lợi ích của một nhóm người nào) và cũng bao gồm quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi để có đủ sức mạnh chống nguy cơ xâm lược từ bên ngoài, giữ vững độc lập chủ quyền và có thêm những điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quốc gia - dân tộc.

Khi xem xét, giải quyết quyền tự quyết của dân tộc cần đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân. Triệt để ủng hộ các phong trào dân tộc tiến bộ phù hợp với lợi ích chính đáng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Kiên quyết đấu tranh chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực đế quốc và phản động lợi dụng chiêu bài “dân tộc tự quyết” để can thiệp vào công việc nội bộ của các nước, giúp đỡ các thế lực phản động dân tộc chủ nghĩa (sôvanh, hẹp hòi) đàn áp các lực lượng tiến bộ, đòi ly khai và đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa tư bản.

Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc

Liên hiệp công nhân của tất cả các dân tộc là tư tưởng cơ bản trong cương lĩnh dân tộc của các đảng cộng sản: nó phản ánh bản chất quốc tế của phong trào công nhân, phản ánh sự thống nhất giữa sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Nó bảo đảm cho phong trào dân tộc có đủ sức mạnh để giành thắng lợi.

Liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc quy định mục tiêu hướng tới; quy định đường lối, phương pháp xem xét cách giải quyết quyền dân tộc tự quyết, quyền bình đẳng dân tộc. Đồng thời, nó là yếu tố sức mạnh đảm bảo cho giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức chiến thắng kẻ thù của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”.

Đoàn kết, liên hiệp công nhân các dân tộc là cơ sở vững chắc để đoàn kết các tầng lớp nhân dân lao động rộng rãi thuộc các dân tộc trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội. Vì vậy, nội dung liên hiệp công nhân các dân tộc đóng vai trò liên kết cả ba nội dung của cương lĩnh thành một chỉnh thể. Đoàn kết giai cấp công nhân các dân tộc là sự thể hiện thực tế tinh thần yêu nước mà thời đại ngày nay đã trở thành sức mạnh cực kỳ to lớn. Nội dung đó phù hợp với tinh thần quốc tế chân chính đang lên tiếng kêu gọi các dân tộc, quốc gia xích lại gần nhau.

Cương lĩnh dân tộc của đảng cộng sản là một bộ phận trong cương lĩnh cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp; là cơ sở lý luận của đường lối, chính sách dân tộc của các đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa.

ĐẶC ĐIỂM QUAN HỆ DÂN TỘC VIỆT NAM VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

Đặc điểm quan hệ dân tộc ở Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc thống nhất gồm 54 dân tộc. Dân tộc Kinh chiếm 87% dân số; 53 dân tộc còn lại chiếm 13% dân số, phân bố rải rác trên địa bàn cả nước. 10 dân tộc có số dân từ dưới 1 triệu đến 100 ngàn người là: Tày, Nùng, Thái, Mường, Khơme, Mông, Dao, Giarai, Bana, Êđê; 20 dân tộc có số dân dưới 100 ngàn người; 16 dân tộc có số dân từ dưới 10 ngàn người đến 1 ngàn người; 6 dân tộc có số dân dưới 1 ngàn người Cống, Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Ơ Đu, Brâu).

Đặc trưng nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta là sự cố kết dân tộc, hoà hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã trở thành truyền thống, thành sức mạnh và đã được thử thách trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước qua mấy ngàn năm lịch sử cho đến ngày nay.

Do những yếu tố đặc thù của nền kinh tế trồng lúa nước, một kết cấu công xã nông thôn bền chặt sớm xuất hiện. Trải qua lịch sử liên tục chống ngoại xâm, dân tộc ta đã hình thành rất sớm và trở thành một quốc gia dân tộc thống nhất ngay dưới chế độ phong kiến. Đoàn kết là xu hướng khách quan cố kết các dân tộc trên cơ sở có chung lợi ích, có chung vận mệnh lịch sử, chung một tương lai, tiền đồ.

Tuy nhiên, bên cạnh mặt cố kết tạo nên tính cộng đồng chung, có nơi có lúc vẫn xảy ra hiện tượng tiêu cực trong quan hệ dân tộc. Chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lại luôn luôn dùng mọi thủ đoạn chia rẽ dân tộc và can thiệp vào nội bộ nước ta. Do đó, phát huy truyền thống đoàn kết, xoá bỏ thành kiến, nghi kỵ dân tộc và kiên quyết đập tan mọi âm mưu chia rẽ dân tộc của kẻ thù là nhiệm vụ trọng yếu của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ngày càng tăng, tuy trong từng khu vực nhất định có những dân tộc sống tương đối tập trung, nhưng không thành địa bàn riêng biệt. Do đó, các dân tộc ở nước ta không có lãnh thổ riêng, không có nền kinh tế riêng và sự thống nhất hữu cơ giữa dân tộc và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội ngày càng được củng cố.

Do điều kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của các chế độ áp bức bóc lột trong lịch sử nên trình độ phát triển kinh tế, văn hoá... giữa các dân tộc còn khác biệt, chênh lệch nhau.

Tình trạng chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá... giữa các dân tộc, giữa các vùng dân cư là một đặc trưng cần quan tâm nhằm từng bước khắc phục sự chênh lệch đó để thực hiện bình đẳng, đoàn kết dân tộc ở nước ta. Nhiều vùng dân tộc thiểu số canh tác còn ở trình độ rất thấp, chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên. Đời sống vật chất của bà con dân tộc thiểu số còn thiếu thốn, tình trạng nghèo đói kéo dài, thuốc chữa bệnh khan hiếm, nạn mù chữ và tái mù chữ còn ở nhiều nơi. Đường giao thông và phương tiện đi lại nhiều vùng rất khó khăn; điện, nước phục vụ cho sản xuất đời sống nhiều vùng còn rất thiếu; thông tin, bưu điện nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu của đời sống, nhất là ở vùng cao, vùng xa xôi hẻo lánh...

Cùng với nền văn hoá cộng đồng, mỗi dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam đều có đời sống văn hoá mang bản sắc riêng rất phong phú. Bởi vì, bất cứ dân tộc nào, dù nhiều người hay ít người, đều có nền văn hoá riêng, phản ánh truyền thống lịch sử, đời sống tinh thần, niềm tự hào của dân tộc bằng những bản sắc độc đáo. Đặc trưng của sắc thái văn hoá dân tộc bao gồm: ngôn ngữ tiếng nói, văn học, nghệ thuật, tình cảm dân tộc, y phục, phong tục tập quán, quan hệ gia đình, dòng họ... Một số dân tộc có chữ viết riêng (Khơme, Chăm, Thái, Mông, Giarai, Êđê ). Một số dân tộc thiểu số gắn với một vài tôn giáo truyền thống (Khơme – với đạo Phật; Chăm – với Islam, Bàlamôn ); một vài dân tộc gắn với đạo Tin Lành, đạo Thiên Chúa... Vì vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn tôn trọng bản sắc văn hoá riêng và tôn trọng tự do tín ngưỡng của mỗi dân tộc. Sự phát triển đa dạng mang bản sắc văn hoá của từng dân tộc càng làm phong phú thêm nền văn hoá của cả cộng đồng.

Các dân tộc thiểu số tuy chỉ chiếm 13% dân số cả nước nhưng lại cư trú trên các địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh và giao lưu quốc tế, đó là các vùng biên giới, vùng rừng núi cao, hải đảo... Nhiều vùng đồng bào dân tộc thiểu số trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến. Một số dân tộc có quan hệ dòng tộc với các dân tộc ở các nước láng giềng và khu vực.

Xuất phát từ tình hình, đặc trưng cơ bản của dân tộc Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn quan tâm đến vấn đề chính sách dân tộc xem xét nó như là vấn đề xã hội - chính trị rộng lớn, toàn diện gắn liền với các mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay

Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vấn đề dân tộc và thực tiễn lịch sử đấu tranh cách mạng để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam cũng như dựa vào tình hình thế giới trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta ngay từ khi thành lập cho đến nay luôn luôn coi vấn đề dân tộc và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc có tầm quan trọng đặc biệt. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, đồng bào các dân tộc đều là anh em ruột thịt, là con cháu một nhà, thương yêu đoàn kết giúp đỡ nhau là nghĩa vụ thiêng liêng của các dân tộc. Người còn khẳng định: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là nhiệm vụ có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, cũng như tiềm năng riêng của từng dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và đưa đất nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta đã nêu rõ: "Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng"
, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 121-122.
. Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hoá, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần đi đôi với “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng"2, kiên quyết “Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc”
. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 128
.


Những chính sách dân tộc cơ bản của Đảng và Nhà nước ta được biểu hiện cụ thể như sau:

+ Có chính sách phát triển kinh tế hàng hoá ở các vùng dân tộc thiểu số phù hợp với điều kiện và đặc điểm từng vùng, từng dân tộc, bảo đảm cho đồng bào các dân tộc khai thác được thế mạnh của địa phương để làm giàu cho mình và đóng góp vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Đây là vấn đề cực kỳ quan trọng để khắc phục sự chênh lệch về kinh tế, văn hoá, bảo đảm sự bình đẳng thực sự giữa các dân tộc. Đi đôi với phát huy tiềm lực kinh tế của các vùng dân tộc cần chú trọng bảo vệ môi trường thiên nhiên, ổn định đời sống của đồng bào, phát huy mối quan hệ tốt đẹp, gắn bó giữa đồng bào tại chỗ và đồng bào từ nơi khác đến, chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi.

+ Tôntrọng lợi ích, truyền thống, văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc; từng bước nâng cao dân trí đồng bào các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số ở vùng núi cao, hải đảo.

Đây là vấn đề quan trọng và rất tế nhị, cần lắng nghe ý kiến của đồng bào và có chính sách thật cụ thể nhằm làm cho nền văn hoá chung vừa hiện đại vừa đậm đà bản sắc dân tộc, ngày càng phong phú và rực rỡ.

+ Tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết và đấu tranh kiên cường của các dân tộc vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, nghiêm cấm mọi hành vi miệt thị và chia rẽ dân tộc.

+ Tăng cường bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; đồng thời giáo dục tinh thần đoàn kết hợp tác cho cán bộ các dân tộc. Bởi vì, chỉ tinh thần đó mới phù hợp với đòi hỏi khách quan của công cuộc phát triển dân tộc và xây dựng đất nước. Trong công cuộc đó, không dân tộc nào có thể chỉ sử dụng đội ngũ cán bộ xuất thân từ dân tộc mình, ngược lại, cần sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các đội ngũ cán bộ thuộc mọi dân tộc trong cả nước.

Như vậy, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước mang tính toàn diện, tổng hợp, quán xuyến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, liên quan đến mỗi dân tộc và quan hệ giữa các dân tộc trong cả cộng đồng quốc gia. Phát triển kinh tế – xã hội của các dân tộc là nền tảng để tăng cường đoàn kết và thực hiện quyền bình đẳng dân tộc, là cơ sở để từng bước khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc. Do đó, chính sách dân tộc còn mang tính cách mạng và tiến bộ, đồng thời còn mang tính nhân đạo, bởi vì, nó không bỏ sót bất cứ dân tộc nào, không cho phép bất cứ tư tưởng khinh miệt, kỳ thị, chia rẽ dân tộc; nó tôn trọng quyền làm chủ của mỗi con người và quyền tự quyết của các dân tộc. Mặt khác, nó còn nhằm phát huy nội lực của mỗi dân tộc kết hợp với sự giúp đỡ có hiệu quả của các dân tộc anh em trong cả nước.

Nhận thức đúng đắn bản chất, nội dung, tính chất của chính sách dân tộc có ý nghĩa quyết định tới việc định hướng và đổi mới các biện pháp thực hiện chính sách dân tộc, làm cho chính sách dân tộc đi vào cuộc sống.

CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ ÔN TẬP

1. Phân biệt các khái niệm dân tộc. Phân tích về hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc trong thời đại hiện nay?

2. Phân tích nội dung cơ bản "Cương lĩnh dân tộc" của Đảng Cộng sản Việt Nam?

3. Khái quát tình hình các dân tộc ở Việt Nam và nội dung cơ bản các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước?
 

DreamHigh 18

Administrator
CÂU HỎI THẢO LUẬN VÀ ÔN TẬP

1. Phân biệt các khái niệm dân tộc. Phân tích về hai xu hướng khách quan của sự phát triển các dân tộc trong thời đại hiện nay?

2. Phân tích nội dung cơ bản "Cương lĩnh dân tộc" của Đảng Cộng sản Việt Nam?

3. Khái quát tình hình các dân tộc ở Việt Nam và nội dung cơ bản các chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước?
Chúng ta cùng đi vào làm rõ vấn đề cơ bản về dân tộc và nguyên tắc giải quyết vấn đề dân tộc.
a) Khái niệm dân tộc
* Khái niệm dân tộc
Cho đến nay, chưa có định nghĩa về dân tộc được mọi người thừa nhận. Điều đó một phần là do dân tộc được xem xét từ những quan điểm, lập trường và giác ngộ khác nhau; phần khác là do hiện thực phong phú, phức tạp của các loại hình dân tộc đang tồn tại ở các quốc gia, khu vực trên thế giới.
C.Mác, Ph.Ăngghen và cả V.I.Lênin chưa đưa ra định nghĩa về dân tộc, mặc dù các ông bàn rất nhiều về dân tộc. Năm 1913, trong cuốn sách Chủ nghĩa Mác và vấn đề dân tộc, Stalin đã nêu lên một định nghĩa về dân tộc “Dân tộc là một khối người cộng đồng ổn định, được thành lập trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng người về tiếng nói, lãnh thổ sinh hoạt kinh tế và tâm lý biểu hiện trong cộng đồng văn hóa”[1]. Trong nhiều năm, ở các nước xã hội chủ nghĩa nhiều người xem đó là định nghĩa kinh điển của chủ nghĩa Mác –Lênin về dân tộc. Hiện nay, một mặt cần khẳng định giá trị bền vững của định nghĩa trên, mặt khác cần bổ sung vào định nghĩa đó cho phù hợp với sự phát triển của lý luận và thực tiễn.
Ở nước ta, có nhiều nha khoa học nghiên cứu để đưa ra định nghĩa về dân tộc. Cuốn Từ điển tiếng Việt nêu định nghĩa dân tộc như sau:
“1. Cộng đồng người hình thành trong lịch sử có chung một lãnh thổ, các quan hệ kinh tế, một ngôn ngữ văn học và một số đặc trưng văn hóa và tính cách…
2. Tên gọi chung những cộng đồng người cùng chung một ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hóa, hình thành trong lịch sử từ sau bộ lạc…
3. Cộng đồng người ổn định làm thành nhân dân một nước, có ý thức về sự thống nhất của mình, gắn bó với nhau bởi quyền lợi chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và truyền thống đấu tranh chung…” [2].
Trong Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin đưa ra khái niệm dân tộc thường được dùng với hai nghĩa:
Thứ nhất, khái niệm dân tộc dùng để chỉ cộng đồng người cụ thể nào đó có những mối liên hệ chặt chẽ, bền vững, có sinh hoạt kinh tế chung, có ngôn ngữ chung của cộng đồng và trong sinh hoạt văn hóa có những nét đặc thù so với những cộng đồng khác; xuất hiện sau cộng đồng bộ lạc; có sự kế thừa và phát triển hơn những nhân tố tộc người ở cộng đồng bộ lạc và thể hiện thành ý thức tự giác của các thành viên trong cộng đồng đó.
VD: Dân tộc Kinh, dân tộc Thái, dân tộc Mường …
Thứ hai, khái niệm dân tộc dùng để chỉ một cộng đồng người ổn định, bền vững hợp thành nhân dân của một quốc gia, có lãnh thổ chung, nền kinh tế thống nhất, quốc ngữ chung, có truyền thống văn hóa, truyền thống đấu tranh chung trong quá trình dựng nước và giữ nước[3].
VD: Dân tộc Việt nam, dân tộc Trung Hoa,…
Như vậy, dân tộc là một khái niệm đa nghĩa, nhưng có hai nghĩa chính là: hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một quốc gia, hoặc để chỉ cộng đồng dân cư của một tộc người. Dưới góc độ của của môn chủ nghĩa xã hội khoa học, dân tộc được hiểu theo nghĩa quốc gia, tuy nhiên vẫn phải đặt trong mối liên hệ với nghĩa là tộc người thì những nội dung của nó mới bộc lộ đầy đủ.
*Những đặc trưng chủ yếu của dân tộc:
+ Có chung một phương thức sinh hoạt kinh tế. Đây là đặc trưng quan trọng nhất của dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở liên kết các bộ phận, các thành viên của dân tộc, tạo nên nền tảng vững chắc của cộng đồng dân tộc.
C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh rằng: động lực gắn kết các dân tộc thành một nhà nước, một quốc gia thống nhất chính là yếu tố kinh tế. Trong một quốc gia dân tộc tồn tại nhiều giai cấp có những lợi ích khác nhau nhưng phải có sự tương đồng về lợi ích. Tính thống nhất, tương đồng về kinh tế là cơ sở đảm bảo cho sự thống nhất quốc gia dân tộc. Các mối quan hệ kinh tế là cơ sở hình thành, phát triển và củng cố các giá trị văn hóa tinh thần nảy sinh và tồn tại trên các quan hệ kinh tế ấy.
+ Có thể cư trú tập trung trên một vùng lãnh thổ chung của một quốc gia, hoặc cư trú đan xen với nhiều dân tộc anh em. Vận mệnh dân tộc một phần rất quan trọng gắn với việc xác lập và bảo vệ lãnh thổ đất nước.
Lãnh thổ là biểu hiện chủ quyền của dân tộc trong mối quan hệ với quốc gia dân tộc khác. Lãnh thổ của một quốc gia dân tộc bao gồm trong nó: vùng lãnh thổ cư trú của các dân tộc – tộc người hợp thành quốc gia dân tộc; vùng lãnh thổ có chủ quyền và cả các vùng lãnh thổ có quyền chủ quyền. Lãnh thổ của mỗi dân tộc nói chung, cũng như của từng bộ phận của lãnh thổ ấy được hình thành, phát triển trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, gắn với lịch sử tồn tại, phát triển quốc gia dân tộc, cũng như của các dân tộc – tộc người hợp thành… Do đó, lãnh thổ là một giá trị văn hóa chung, đặc thù của quốc gia dân tộc, là sản phẩm của quá trình phát triển phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt vật chất và tinh thần của cả cộng đồng quốc gia dân tộc.
+ Có chung đời sống văn hóa và ngôn ngữ
Văn hóa là yếu tố đặc biệt gắn kết cộng đồng thành một khối thống nhất, được chắt lọc trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Văn hóa là động lực của sự phát triển, là công cụ để bảo vệ độc lập chủ quyền của quốc gia, văn hóa là đặc trưng cơ bản nhất để phân biệt sự khác nhau giữa các dân tộc.
Ngôn ngữ là công cụ quan trọng nhất trong giao tiếp của mỗi dân tộc. Ngôn ngữ là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài về kinh tế - xã hội của dân tộc, là công cụ bảo lưu, giữ gìn những giá trị văn hóa lâu đời của dân tộc và là một biểu tượng cho thấy sự trường tồn của mỗi dân tộc. Trong quốc gia nhiều dân tộc bao giờ cũng có một ngôn ngữ chung thống nhất làm công cụ giao tiếp. Cùng với ngôn ngữ, các giá trị văn hóa hợp thành đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng dân tộc – tộc người trong quốc gia dân tộc cũng tồn tại, phát triển trong quá trình lịch sử lâu dài.
Như vậy, cồng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có đầy đủ các đặc trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó chặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định. Từ những đặc trưng này có thể phân biệt rõ khái niệm dân tộc với khái niệm sắc tộc, từ đây cũng cho thấy khái niệm dân tộc và khái niệm quốc gia gắn bó chặt chẽ với nhau.
Với tính cách là một bộ phận hợp thành chủ nghĩa Mác –Leenin và dựa trên nguyên tắc của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa xã hội khoa học tiếp cận nghiên cứu dân tộc chủ yếu với tính cách là một quốc gia dân tộc, trong đó bao gồm một hay nhiều dân tộc – tộc người hợp thành được hình thành, phát triển trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân. Từ đó việc nghiên cứu dân tộc được đặt trong mối quan hệ hữu cơ, biện chứng giữa lợi ích của giai cấp công nhân với lợi ích chính đáng và cơ bản của nhân dân lao động, của toàn dân tộc và quốc gia dân tộc.
b) Hai xu hướng phát triển của dân tộc và vấn đề dân tộc trong xây dựng chủ nghĩa xã hội
Nghiên cứu phong trào dân tộc trong thời đại chủ nghĩa đế quốc, V.I.Lênin đã phát hiện ra hai xu hướng khách quan trong sự phát triển của dân tộc, đó là xu hướng tách ra để xác lập các cộng đồng dân tộc độc lập và xu hướng liên hiệp lại với nhau giữa các dân tộc. Hai xu hướng cơ bản này được diễn ra qua các hình thức khác nhau, tùy thuộc vào tương quan lợi ích của các giai cấp trong mỗi cộng đồng dân tộc với lợi ích chung của cộng đồng dân tộc ấy.
- Xu hướng thứ nhất: do sự chín muồi của ý thức dân tộc , sự thức tỉnh về quyền sống của mình, các cộng đồng dân cư muốn tách ra để thành lập các quốc gia dân tộc độc lập.
+
Trong thời kỳ tư bản chủ nghĩa, ở các quốc gia gồm nhiều cộng đồng dân cư có nguồn gốc tộc người khác nhau. Khi mà các tộc người đó có sự trưởng thành về ý thức dân tộc, ý thức về quyền sống của mình, các cộng đồng dân cư đó muốn tách ra thành lập các dân tộc độc lập.
+ Chỉ trong cộng đồng dân tộc độc lập, các dân tộc đó mới có quyền quyết định vận mệnh của mình mà quyền cao nhất là quyền tự do lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển.
+ Trong thực tế, xu hướng này biểu hiện thành phong trào đấu tranh chống áp bức dân tộc, thành lập các quốc gia dân tộc độc lập. Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản và vẫn còn tác động trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa
- Xu hướng thứ hai: Các dân tộc ở từng quốc gia, kể cả các dân tộc ở nhiều quốc gia muốn liên hiệp lại với nhau.
+
Xu hướng này nổi lên trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Chính sự phát triển của lực lượng sản xuất, của khoa học và công nghệ, của giao lưu kinh tế và văn hóa trong xã hội tư bản đã làm xuất hiện nhu cầu xóa bỏ hàng rào ngăn cách giữa các dân tộc, tạo nên mối liên hệ quốc gia và quốc tế rộng lớn giữa các dân tộc, thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau.
- Hai xu hướng này vận động trong điều kiện chủ nghĩa đế quốc gặp nhiều trở ngại.
+ Nguyện vọng của các dân tộc được sống độc lập tự do bị chính sách xâm lược của chủ nghĩa đế quốc xóa bỏ. Chính sách xâm lược đó đã biến hầu hết các dân tộc nhỏ bé hoặc còn ở trình độ lạc hậu thành thuộc địa và phụ thuộc vào nó.
+ Xu hướng các dân tộc xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện và bình đẳng bị chủ nghĩa đế quốc phủ nhận để thay vào đó là những khối liên hiệp do chủ nghĩa đế quốc lập ra nhằm duy trì sự áp bức, bóc lột đối với các dân tộc đó, trên cơ sở bất bình đẳng và sự cưỡng bức.
- Chủ nghĩa Mác –Lênin cho rằng, chỉ trong điều kiện của chủ nghĩa xã hội, khi tình trạng người bóc lột người bị thủ tiêu thì tình trạng dân tộc này áp bức, nô dịch các dân tộc khác mới bị xóa bỏ. Chỉ khi đó, hai xu hướng khách quan của sự phát triển dân tộc mới có điều kiện để thực hiện đầy đủ, trong hòa bình và có tính chất tự nguyên. Qúa độ từ chủ ngĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội là quá độ lên một xã hội thực sự tự do, bình đẳng, đoàn kết, hữu nghị giữa người và người.
- Về cơ bản, hai xu hướng này có sự thống nhất chặt chẽ với nhau. Các dân tộc tự nỗ lực vươn lên để đi tới tự chủ và phồn vinh là điều kiện để các dân tộc xích lại gần nhau, xóa bỏ mặc cảm và sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các dân tộc. Sự tăng cường liên kết, hợp tác giữa các dân tộc trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện lại tạo điều kiện cho các dân tộc đi tới tự chủ và phồn vinh, cho phép các dân tộc không chỉ dựa vào tiềm năng lợi thế của mình mà còn dựa vào tiềm năng của các dân tộc anh em trong sự liên minh vững chắc để cùng phát triển.
- Hai xu hướng này phù hợp với sự phát triển của các dân tộc trên thế giới
+ Thời đại ngày nay các dân tộc bị áp bức đã vùng dậy, xóa bỏ ách đô hộ của chủ nghĩa đế quốc và giành lấy sự tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình: bao gồm quyền tự lựa chọn chế độ chính trị và con đường phát triển của dân tộc, quyền bình đẳng với các dân tộc khác. Xu hướng này cũng là biểu hiện trong cuộc đấu tranh của các dân tộc nhỏ bé đang là nạn nhân của sự kỳ thị dân tộc, phân biệt chủng tộc, đang bị coi là đối tượng của chính sách đồng hóa cưỡng bức ở nhiều nước tư bản.
+ Thời đại ngày nay các dân tộc muốn xích lại gần nhau để trở lại hợp nhất thành một quốc gia thống nhất. Các dân tộc liên minh trên cơ sở lợi ích chung nhất định. Các dân tộc có những lợi ích mang tính khu vực, dựa trên yếu tố gần nhau về địa lý, giống nhau về môi trường thiên nhiên, tương đồng về một số giá trị văn hóa, trùng hợp nhau về lịch sử và hiện tại trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù bên ngoài.
Nhận rõ được điều này, mỗi dân tộc, quốc gia phải biết thực hiện chính sách độc lập tự chủ để mở cửa hội nhập vào dòng vận động chung của nhân loại; đồng thời phải tìm được giải pháp hữu hiệu để giữ gìn, phát huy bản sắc của dân tộc mình.
- Ở các quốc gia xã hội chủ nghĩa, hai xu hướng phát huy tác động cùng chiều, bổ sung, hỗ trợ cho nhau và diễn ra trong từng dân tộc, trong cả cộng đồng quốc gia và đến tất cả các quan hệ dân tộc. Sự xích lại gần nhau trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa các dân tộc sẽ tạo điều kiện cho từng dân tộc đi nhanh tới sự tự chủ và phồn vinh. Bởi vì, nó sẽ tạo điều kiện cho dân tộc đó có thêm những điều kiện vật chất và tinh thần để hợp tác chặt chẽ hơn các dân tộc anh em; đồng thời nó cho phép mỗi dân tộc không chỉ sử dụng tiềm năng của các dân tộc mình mà còn có sự gắn kết với tiềm năng của các dân tộc anh em trong một nước để tiến lên phía trước.
Trong chế độ xã hội chủ nghĩa, cả hai xu hướng trên đều loại trừ các tư tưởng và hành vi kỳ thị dân tộc, chia rẽ dân tộc, tự ti dân tộc, dân tộc hẹp hòi và xung đột dân tộc.
Dựa trên sự phân tích hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc trong thời đại hiện nay, Đảng ta đã khẳng định “Giữ vững độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”[4] là nguyên tắc thống nhất của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
c) Những quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin trong việc giải quyết vấn đề dân tộc
Dựa trên cơ sở tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen về vấn đề dân tộc; dựa vào sự tổng kết kinh nghiệm đấu tranh của phong trào cách mạng thế giới và cách mạng Nga; phân tích sâu sắc hai xu hướng khách quan của phong trào dân tộc gắn liền với quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản, nhất là khi đã bước vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, V.I. Lênin đã khái quát lại thành "Cương lĩnh dân tộc" củaĐảng cộng sản. Trong tác phẩm Về quyền dân tộc tự quyết, Người nêu rõ: "Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết, liên hiệp công nhân tất cả các dân tộc lại".
* Các dân tộc hoàn toàn bình đẳng
- Theo Từ điển tiếng Việt: bình đẳng là ngang nhau, như nhau về địa vị, quyền lợi. Bình đẳng dân tộc là các dân tộc như nhau về địa vị và quyền lợi.
Quyền bình đẳng dân tộc là quyền của tất cả các dân tộc được hưởng những điều kiện và những khả năng như nhau đối với việc tự do phát triển các năng lực và thỏa mãn các nhu cầu của mình, có địa vị như nhau đối với tất cả các dân tộc.
- Quyền bình đẳng giữa các dân tộc bao gồm tất cả các lĩnh vực trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đây là cơ sở pháp lý chung giải quyết các quan hệ dân tộc trên thế giới, trong khu vực hay trong một quốc gia.
Bình đẳng giữa các dân tộc cũng chính là kết quả đấu tranh của nhân dân lao động các nước. Quyền bình đẳng dân tộc bao hàm cả quyền bình đẳng của các tộc người thiểu số… bất cứ một thứ đặc quyền nào dành riêng cho một dân tộc và bất cứ một sự vi phạm nào đến quyền lợi của một dân tộc thiểu số, đều bị bác bỏ.
+ Trên lĩnh vực kinh tế: bình đẳng dân tộc phụ thuộc vào sự đồng đều về trình độ phát triển kinh tế của các dân tộc, cốt lõi là sự phát triển đồng đều về lực lượng sản xuất. Theo V.I.Lênin, lợi ích kinh tế gắn liền với lợi ích giai cấp, dân tộc, quốc gia. Khi giải quyết các mối quan hệ liên quan đến dân tộc – quốc gia, dân tộc – tộc người đều phải tính đến quan hệ kinh tế, lợi ích kinh tế. Ngày nay, trong xu thế giao lưu hợp tá quốc tế giữa các quốc gia dân tộc hay giữa các dân tộc – tộc người, bình đẳng trên phương diện kinh tế sẽ tạo điều kiện thực hiện tốt nguyên tắc bình đẳng, hợp tác cùng có lợi trong phát triển kinh tế của các dân tộc, các quốc gia.
+ Trên lĩnh vực chính trị: Bình đẳng về chính trị đóng vai trò là tiền đề, là điều kiện tiên quyết và là cơ sở để thực hiện bình đẳng trên các lĩnh vực khác trong quan hệ giữa các dân tộc. Đối với các dân tộc bị áp bức, bị lệ thuộc, đấu trnh giành quyền bình đẳng về chính trị, chính là điều kiện để có bình đẳng trên các phương diện khác của đời sống xã hội. Bình đẳng về chính trị là quyền của mỗi dân tộc tự quyết định vận mệnh của dân tộc mình, bao gồm: quyền lựa chọn chế độ, con đường phát triển của dân tộc mình, quyền quyết định chính sách dân tộc mình trong lĩnh vực quan hệ với dân tộc khác. Mọi biểu hiện nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia dân tộc đều vi phạm quyền bình đẳng chính trị của các dân tộc.
+ Trên lĩnh vực văn hóa xã hội: Văn hóa là biểu hiện kết tinh những giá trị nổi bật của mỗi dân tộc. Mỗi dân tộc có một nền văn hóa mang đậm bản sắc của dân tộc mình. Trong quan hệ dân tộc, văn hóa là một nhân tố có ý nghĩa quyết định địa vị bình đẳng của một dân tộc này với dân tộc khác. Vấn đề bình đẳng trong văn hóa phải gắn liền với bình đẳng về kinh tế, chính trị.
*Các dân tộc có quyền tự quyết
- Quyền dân tộc tự quyết là quyền của các dân tộc tự mình định đoạt công việc và vận mệnh của mình, quyền độc lập chính trị và phân lập về mặt chính trị khỏi dân tộc áp bức họ. Quyền dân tộc tự quyết có thể biểu hiện ở những mức độ khác nhau, từ tự trị ội bộ đến tách ra thành quốc gia dân tộc độc lập. Theo V.I.Lênin quyền tự quyết dân tộc không chỉ là quyền phân lập mà còn là quyền liên kết để trở thành quốc gia dân tộc độc lập.
- Quyền dân tộc tự quyết trước hết xuất hiện trong quốc gia nhiều dân tộc. Do nạn áp bức giữa dân tộc lớn với dân tộc nhỏ nên đã hình thành phong trào đòi quyền tự quyết của các dân tộc bị áp bức. Trong phong trào này giai cấp công nhân đã đề xướng nguyên tắc về quyền tự quyết của các dân tộc chống chủ nghĩa đế quốc.
Độc lập chính trị là quyền cơ bản thiêng liêng của mỗi dân tộc, cũng là mục tiêu đầu tiên của giai cấp công nhân ở các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp mình. Thực hiện quyền dân tộc tự quyết là làm suy yếu chủ nghĩa đế quốc, góp phần xóa bỏ sự hiềm khích, nghi kỵ giữa các dân tộc, tạo điều kiện cho sự thống nhất giữa giai cấp công nhân với các dân tộc trên toàn thế giới.
*Liên hiệp giai cấp công nhân các dân tộc
- Là sự đoàn kết thống nhất giai cấp công nhân tất cả các dân tộc trên cơ sở có cùng địa vị kinh tế - xã hội, có sự thống nhất về lợi ích giai cấp, có cùng sứ mệnh lịch sử
- Liên hiệp giai cấp công nhân các dân tộc vừa là kết quả vừa là điều kiện thực hiện quyền bình đẳng và quyền dân tộc tự quyết. Đây là liên minh quốc tế trong cuộc đấu tranh chống áp bức giai cấp và áp bức dân tộc, vì sự giải phóng dân tộc và xã hội.
V.I.Lênin cho rằng: Việc giải phóng khỏi ách tư bản, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội, cộng sản chủ nghĩa là nhiệm vụ quốc tế của tất cả những người vô sản, của tất cả nhân dân lao động các nước. Chủ nghĩa quốc tế vô sản thể hiện tính chất chung của những quyền lợi cơ bản của những ý nguyện tiến bộ của nhân dân lao động tất cả các dân tộc vì nguồn gốc và bản chất, nó đối lập với chủ nghĩa dân tộc tư sản gây sự thù hằn và chia rẽ giữa các dân tộc.
=> Ba nội dung trên của Cương lĩnh dân tộc là cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để giải quyết các quan hệ dân tộc. Trong ba nội dung ấy, nội dung thứ ba có vai trò liên kết các nội dung khác trong cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác –Lênin thành một chỉnh thể, đồng thời nó thể hiện trên thực tế tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế chân chính, tạo ra sức mạnh và động lực to lớn có tác dụng thúc đẩy các dân tộc xích lại gần nhau trong cuộc đấu tranh chung. Nguyên tắc cơ bản để thực hiện ba nội dung này của Cương lĩnh dân tộc trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa ở mỗi dân tộc, quốc gia là đặt dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân nhằm cải tạo xã hội một cách toàn diện, triệt để.
Khi chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, các thế lực chống đối và thù địch với chủ nghĩa xã hội đã ra sức xuyên tạc chủ nghĩa Mác –Lênin nói chung và quan điểm giải quyết vấn đề dân tộc nói riêng. Chúng kích động tâm lý ly khai, xuyên tạc về quyền dân tộc tự quyết trong mọi trường hợp, kích động các dân tộc thiểu số đòi phân lập thành lãnh thổ, quốc gia riêng bất chấp pháp luật quốc gia và công ước quốc tế. Mặt khác, chúng thông qua quá trình toàn cầu hóa can thiệp thô bạo vào chủ quyền quốc gia, xâm phạm lãnh thổ nhiều nước dưới chiêu bài nhân quyền, dân chủ, tự do tôn giáo…
Ngày nay, vấn đề dân tộc đang diễn ra vô cùng phức tạp. Những xung đột dân tộc, tộc người, những mưu đồ đồng hóa dân tộc vẫn tiếp tục tồn tại dưới nhiều sắc thái tinh vi,ở nhiều quốc gia khu vực. Những năm gần đây, ở Việt Nam các thế lực thù địch cũng ráo riết lợi dụng vấn đề dân tộc, những khó khăn trong đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, kích động bạo loạn, ly khai, chia rẽ khối đại đoàn kết các dân tộc. Việc giải quyết những tranh chấp hay mâu thuẫn liên quan đến dân tộc đòi hỏi chúng ta phải nhận thức một cách đầy đủ hơn, sâu sắc và vận dụng một cách sáng suốt cụ thể những quan điểm về vấn đề dân tộc cũng như nội dung của cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa xã hội khoa học. Mặt khác, phải đấu tranh kiên quyết làm thất bại mọi thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, nhân quyền nhằm thực hiện “Diễn biến hòa bình” từ các thế lực chống đối.
d. Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc trong thời kỳ mới.
Chính sách dân tộc ở Việt Nam là toàn bộ đường lối, chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước, tác động vào và nhằm giải quyết các vấn đề dân tộc trên tất cả các lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội liên quan đến quan hệ dân tộc, lợi ích dân tộc thuộc cộng đồng các dân tộc Việt Nam thống nhất.
Chính sách dân tộc bao hàm trong nó các chính sách nhằm giải quyết các vấn đề dân tộc, lợi ích dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, kiều bào Việt Nam ở nước ngoài và các chính sách dân tộc nhằm giải quyết các vấn đề dân tộc, lợi ích của quốc gia dân tộc Việt Nam trong mối quan hệ với các dân tộc trên thế giới. Các nội dung cơ bản của chính sách dân tộc có quan hệ mật thiết với nhau, trong đó, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là mục đích cơ bản, bao trùm mà chính sách dân tộc cần hướng tới.
- Những nội dung cơ bản của chính sách dân tộc ở nước ta.
Nội dung đối nội của chính sách dân tộc
+ Bình đẳng giữa các dân tộc

Đây là nội dung cơ bản, có ý nghĩa quan trọng hàng đầu của chính sách dân tộc về quyền của các dân tộc thiểu số. Các dân tộc không phân biệt đa số hay thiểu số, trình độ phát triển cao hay thấp, đều ngang nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội và được bảo đảm bằng Hiến pháp và pháp luật. Đó là bình đẳng về chính trị, bình đẳng về kinh tế, bình đẳng về văn hóa.
Chúng ta chống chia rẽ, kỳ thị dân tộc; chống chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; tự trị dân tộc. Đảm bảo bình đẳng trong quan hệ lợi ích giữa các dân tộc. Nhà nước có trácg nhiệm giúp đỡ các dân tộc có kinh tế chậm phát triển để đạt được trình độ phát triển chung với các dân tộc khác. Xã hội bảo đảm cho việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của các dân tộc, làm phong phú nền văn hóa Việt Nam.
+ Đoàn kết các dân tộc.
Các dân tộc Việt Nam cùng chung sống lâu đời bên nhau, gắn bó máu thịt với nhau, sát cánh cùng nhau xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Truyền thống đòa kết giúp đỡ nhau đã được giữ gìn và phát triển trong suốt tiến trình hàng nghìn năm lịch sử. Ngày nay cần được củng cố, phát triển hơn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đoàn kết dân tộc, đó là đoàn kết các tầng lớp, các giai cấp; đoàn kết các dân tộc, đoàn kết người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài; đoàn kết quốc tế.
+ Tương trợ nhau cùng phát triển.
Các dân tộc có trình độ phát triển kinh tế - xã hội cao hơn phải có trách nhiệm giúp đỡ các dân tộc có điều kiện phát triển kinh tế - xã hội khó khăn hơn. Tương trợ giúp đỡ nhau không phải chỉ là giúp đỡ một chiều; mà ngược lại chính sự phát triển của dân tộc này là điều kiện để cho các dân tộc khác ngày càng phát triển hơn.
Tương trợ giúp đỡ nhau trên tất cả các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho các dân tộc, thực hiện đầy đủ quyền bình đẳng và củng cố khối đại đoàn kết dân tộc.
Nội dung đối ngoại của chính sách dân tộc
Thực hiện quan hệ dân tộc trên tinh thần độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu bì hòa bình, độc lập và phát triển. Quan hệ dân tộc trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; bình đẳng và cùng có lợi; giải quyết các bất đồng tranh chấp bằng thương lượng hòa bình. Chủ trương sẵn sàng là đối tác tin cậy thể hiện mong muốn thật sự hội nhập của Đảng ta, nhằm tạo thêm nguồn lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Chính sách dân tộc của Đảng ta qua các kỳ Đại hộc Đảng.
Trong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng và Nhà nước ta luôn coi việc giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc là nhiệm vụ có tính chiến lược nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp và tiềm năng riêng của từng dân tộc trong sự nghiệp phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng khẳng định: “Phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước, ý chí tự lực tự cường và lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững độc lập dân tộc, thống nhất vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau, hướng tới tương lai”[5]. “Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển…xóa đói, giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; thực hiện công bằng xã hôi giữa các dân tộc…đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn… chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ty, mặc cảm dân tộc”[6].
Sau này Nghị quyết Đại hội IX của Đảng về vấn đề dân tộc đã được cụ thể hóa trong hai Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 7: “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và Nghị quyết “Về công tác dân tộc”
Đánh giá về mặt ưu điểm, hiệu quả, sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong những năm đổi mới, Nghị quyết của Đảng “Về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân tộc, văn minh” nhấn mạnh: “Nhìn chung khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức được mở rộng hơn, là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước”[7]. Đồng thời Nghị quyết nghiêm túc nêu ra mặt hạn chế, yếu kém cần khắc phục là “mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân chưa thật bền chặt và đang đứng trước những thách thức mới”[8].
Sau khi chỉ ra nguyên nhân những hạn chế của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Nghị quyết đề ra mục tiêu và bốn quan điểm, khẳng định vai trò, nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu, nhân tố có ý nghĩa quyết định của khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. “Đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân lãnh đạo là các tổ chức đảng…trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu”[9].
Một lần nữa, Đại hội lần thứ XI của Đảng lại tiếp tục khẳng định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”[10].
- Một số quan điểm cơ bản của Đảng ta về công tác dân tộc trong thời kỳ mới:
+ Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.
+ Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc.
+ Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và an ninh quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất.
+ Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xóa đói, giảm nghèo khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước.
+ Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.
- Những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách:
+ Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của đồng bào dân tộc thiểu số, trung tâm là đồng bào vùng cao, vùng sâu, vùng xa, trợ giúp đồng bào nghèo.(Chú ý giải quyết tình trạng thiếu đất sản xuất, tranh chấp đất đai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là Tây Nguyên, Tây Bắc,Tây Nam Bộ).
+ Tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình, thực hiện chương trình phổ cập giáo dục, tăng cường cơ sở khám chữa bệnh cho đồng bào.
+ Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở ở các vùng dân tộc thiểu số, phát triển đảng viên trong đồng bào dân tộc. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, không để “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội ở vùng dân tộc và miền núi.
+ Thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng và tôn giáo ở vùng dân tộc và miền núi; kiên quyết ngăn chặn việc lợi dụng chính sách tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng để hoạt động phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
+ Đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới.
+ Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, tạo điều kiện để nhân dân tích cực, chủ động tham gia xây dựng, thực hiện và giám sát việc thực hiện chính sách, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng ở địa phương.
+ Thông qua các chính sách, biện pháp cụ thể động viên đồng bào các dân tộc phát huy nội lực, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần vươn lên trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xóa đối giảm nghèo, xây dựng cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc.
- Một số giải pháp chủ yếu trong thời gian tới.
+ Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và toàn thể xã hội về vị trí, nhiệm vụ của công tác dân tộc trong tình hình mới.
+ Tiếp tục thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi; rà soát điều chỉnh, bổ sung để hoàn chỉnh những chính sách đã có và nghiên cứu ban hành những chính sách mới để đáp ứng yêu cầu phát triển các vùng dân tộc và nhiệm vụ công tác dân tộc trong giai đoạn mới.
+ Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số cho từng vùng, từng dân tộc, kiện toàn và chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương. Tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc; một số bộ, ngành tổ chức bộ phận và có cán bộ chuyên trách làm công tác dân tộc.
+ Tăng cường công tác vận động quần chúng trong cuộc bảo đảm thực hiện tốt chính sách dân tộc trong giai đoạn cách mạng hiện nay.



[1] Viện CNXH KH- Học viện Chính trị Quốc gia HCM: Tập bài giảng Lý luận dân tộc và chính sách dân tộc, NXB Lý luận chính trị, HN, 2006, tr.58.
[2] Từ điển tiếng Việt, Trung tâm Từ điển học, Đà Nẵng, 1995, Tr.239
[3] Bộ Giáo dục và đào tạo, Giáo trình Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác –Lênin, NXB Chính trị quốc gia, HN, 2010, tr.442.
[4] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, NXB Chính trị quốc gia, HN, 1996, tr.84
[5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, NXB CTQG,H.2001, tr.123-124.
[6] Sđd tr 127- 128.
[7] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị Trung ương 7, NXB CTQG, H. 2003, tr.10.
[8] Sđd tr10.
[9] Sđd tr 13- 14.
[10] Sđd tr 48.
 
Top