Chia Sẻ Luyện thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn -Tổng hợp các đề thi có hướng dẫn

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Diễn đàn kiến thức xin gửi đến các em học sinh lớp 9 đang ôn thi chuẩn bị cho kì thi tuyển sinh vào lớp 10 chuyên đề -Tổng hợp các đề thi có hướng dẫn cho các em tham khảo hi vọng với những tổng hợp của Diễn đàn các em có nguồn tài liệu học tập tốt và có một kì thi thành công.

TRƯỜNG THPT CHUYÊN QUỐC HỌC HUẾ
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10
MÔN: NGỮ VĂN
NĂM HỌC: 2014 - 2015


Câu 1: Đọc đoạn trích và trả lời các câu hỏi sau:


“(1) Mỗi chiếc lá rụng có một linh hồn riêng, một tâm tình riêng, một cảm giác riêng. (2) Có chiếc tựa mũi tên nhọn, tự cành cây rơi cắm phập xuống đất như cho xong chuyện, cho xong một đời lạnh lùng, thản nhiên, không thương tiếc, không do dự vẩn vơ. (3) Có chiếc lá như con chim bị lảo đảo mấy vòng trên không, rồi cố gượng ngoi đầu lên, hay giữ thăng bằng cho chậm tới cái giây nằm phơi trên mặt đất. (4) Có chiếc lá nhẹ nhàng khoan khoái đùa bỡn, múa may với làn gió thoảng (…).”

(Khái Hưng, Ngữ văn 6, tập hai, trang 42)

1.1 Nội dung đoạn văn trên được trình bày theo cách nào? Vì sao?

1.2 Xét về cấu tạo, các câu (2), (3), (4) trong đoạn văn thuộc kiểu câu gì? Tác dụng của kiểu câu đó trong đoạn văn?

Câu 2: Đọc hai câu chuyện sau và thực hiện các yêu cầu:

Câu chuyện 1


Một người nuôi trai lấy ngọc luôn suy nghĩ làm thế nào để tạo được viên ngọc trai tốt nhất, đẹp nhất trên đời. Ông ra bãi biển để chọn một hạt cát và hỏi từng hạt cát có muốn biến thành ngọc trai không. Các hạt cát đều lắc đầu nguầy nguậy khiến ông sắp tuyệt vọng.

Đúng lúc đó có một hạt cát đồng ý, các hạt cát khác đều giễu nó ngốc, chui đầu vào trong vỏ trai, xa lánh người thân, bạn bè, không thấy ánh mặt trời, trăng sao, gió mát, thậm chí thiếu cả không khí, chỉ có bóng tối, ướt lạnh, cô đơn, rất đau buồn, thử hỏi có đáng không? Nhưng hạt cát vẫn theo người nuôi trai về không một chút oán thán.

Vật đổi sao dời, mấy năm qua đi, hạt cát đã trở thành viên ngọc lung linh, đắt giá, còn những bạn bè chế giễu nó ngốc thì vẫn chỉ là những hạt cát…

Câu chuyện 2

Không hiểu bằng cách nào, một hạt cát lọt được vào bên trong cơ thể một con trai. Vị khách không mời mà đến đó tuy rất nhỏ, nhưng gây rất nhiều khó chịu và đau đớn cho cơ thể mềm mại của con trai. Không thể tống hạt cát ra ngoài, cuối cùng con trai quyết định đối phó bằng cách tiết ra một chất dẻo bọc quanh hạt cát.

Ngày qua ngày, con trai đã biến hạt cát gây ra những nỗi đau cho mình thành một viên ngọc trai lấp lánh tuyệt đẹp...

2.1. Hãy đặt một nhan đề chung thể hiện hàm ý của cả hai câu chuyện trên.

2.2. Bằng một văn bản (dài không quá một trang rưỡi giấy thi), trong đó có sử dụng một khởi ngữ và một câu hỏi tu từ (gạch chân, xác định), hãy nêu suy nghĩ về bài học cuộc sống em nhận được từ hai câu chuyện.

Câu 3:

“Lời gửi của văn nghệ là sự sống”.

“Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một áng riêng, () và chiếu tỏa lên mọi việc chúng ta sống, (…) làm cho thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ”.

(Nguyễn Đình Thi, dẫn theo Ngữ văn 9, tập hai, trang 14)

Từ việc tìm hiểu các ý kiến trên, hãy viết về “lời gửi” của một tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 8 hoặc lớp 9 đã làm “thay đổi hẳn” cách “nhìn”, cách “nghĩ” của em về con người và cuộc sống.

Đáp án

Câu 1:

1.1 Nội dung đoạn văn được trình bày theo cách diễn dịch.


- Vì: đoạn văn có câu chủ đề đứng đầu đoạn. Các câu còn lại trong đoạn văn cùng hướng đến làm nổi bật ý đã nêu ở câu chủ đề.

1.2 Xét về cấu tạo, các câu (2), (3), (4) trong đoạn văn thuộc kiểu câu đặc

biệt ( không cấu tạo theo mô hình chủ ngữ - vị ngữ).


- Tác dụng của kiểu câu đó trong đoạn văn: liệt kê, thông báo về sự tồn tại của sự vật, hiện tượng: tăng tính thẩm mĩ, ấn tượng cho đoạn văn.

Câu 2:

2.1 Yêu cầu:


- Nhan đề được đặt phải chứa hàm ý gắn với nội dung ý nghĩa chung của hai câu chuyện.

- Nhan đề được đặt cần ngắn gọn, súc tích, giàu tính hình tượng, thẩm mĩ.

2.2.

A.Yêu cầu về kĩ năng:


- Học sinh viết văn bản nghị luận xã hội ( kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí) có kết cấu ba phần: Mở bài – Thân bài – Kết bài, dài không quá một trang rưỡi giấy thi. Bài viết có bố cục hợp lí, mạch lạc; diễn đạt trôi chảy; chữ viết rõ ràng, trình bày sạch sẽ.

- Bài viết có sử dụng một khởi ngữ, một câu hỏi tu từ ( gạch chân, xác định).

B. Yêu cầu về kiến thức:

- Học sinh nêu suy nghĩ về bài học cuộc sống nhận được từ hai câu chuyện.

- Học sinh có thể trình bày bằng nhiều cách. Sau đây là một số gợi ý:

* Nội dung tư tưởng của hai câu chuyện:

- Câu chuyện 1:


+ Trong cuộc sống, có những người do ngại khó, ngại khổ, chưa nhận ra giá trị đằng sau những khó khăn, thử thách mà thiếu cố gắng, nỗ lực, thiếu ý chí, quyết tâm…, chấp nhận làm “hạt cát” bé nhỏ, tầm thường.

+ Từ “hạt cát” tầm thường, để trở thành “ngọc trai” quý giá, con người phải chấp nhận trải qua một quá trình thử thách gian khổ.

+ Có thử thách trong gian khổ, tôi luyện trong gian nan, con người mới có thể thành công trong cuộc sống, đạt tới đỉnh vinh quang.

- Câu chuyện 2:

+ Cuộc sống vốn tiềm ẩn những khó khăn, biến cố bất thường.

+ Trước những khó khăn, biến cố đó, con người cần biết chấp nhận, đối mặt với khó khăn, thử thách để vượt lên; hơn thế nữa, cần kiên trì, nỗ lực, quyết tâm, chủ động biến thử thách thành cơ hội.

+ Có dũng cảm đối mặt, có nỗ lực, kiên trì…, con người mới tạo ra được những thành quả có ý nghĩa, cống hiến cho đời.

* Bài học cuộc sống từ hai câu chuyện:

- Mỗi con người cần có ý chí, nghị lực, dám đối mặt và sẵn sàng chấp nhận khó khăn, gian khổ trong cuộc sống. Đó chính là mấu chốt của thành công.

Trong những hoàn cảnh đặc biệt, khi gặp biến cố bất thường hay phải đối diện với cái xấu… con người cần chủ động, quyết tâm, luôn có ý thức vượt qua để đạt tới thành công.

- Khó khăn, gian khổ cũng chính là điều kiện, là cơ hội để thử thách và tôi luyện ý chí con người. Vượt qua nó, con người sẽ trưởng thành, tự khẳng định được mình, sống có ý nghĩa hơn và đóng góp cho cuộc đời nhiều hơn.

Học sinh cần trình bày “bài học cuộc sống” với tình cảm chân thành, sâu sắc; nêu được những vấn đề thực sự có ý nghĩa đối với cá nhân và cộng đồng.

Câu 3:

1. Giải thích các ý kiến:

* Về ý kiến: “Lời gửi của văn nghệ là sự sống”.


- Văn nghệ là một loại hình nghệ thuật có giá trị to lớn trong việc tác động vào tư tưởng, tình cảm, nhận thức của mỗi người cũng như toàn xã hội: đem đến cho con người một thế giới phong phú.

- “Lời gửi” của văn nghệ và các loại hình nghệ thuật khác chính là cuộc sống, là sự sống; góp phần làm cho đời sống nhân sinh ngày càng tốt đẹp hơn. Tác giả - người sáng tạo ra tác phẩm, chính là người đem “lời gửi” – thông điệp về đời sống và con người – đến với các thế hệ bạn đọc.

* Về ý kiến: “Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một áng riêng, (…) và chiếu tỏa lên mọi việc chúng ta sống, (…) làm cho thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ”.”

- Tác phẩm văn học lớn có khả năng kì diệu trong việc tác động vào tư tưởng, tình cảm, nhận thức của mỗi người cũng như toàn xã hội; để lại những ấn tượng sâu sắc, có giá trị lâu dài.

- Mỗi tác phẩm văn học lớn đều đặt ra và giải quyết vấn đề theo một cách riêng của nhà văn và cũng được bạn đọc tiếp nhận theo những con đường riêng.

- Tác phẩm văn học lớn đánh thức những cảm xúc tốt đẹp trong tâm hồn độc giả, giúp con người tự nhận thức, xây dựng và phấn đấu hoàn thiện mình một cách toàn diện, bền vững.

=> Hai ý kiến ngắn gọn, cô động, sâu sắc cùng hướng đến thể hiện nội dung, vai trò của văn nghệ nói chung và tác phẩm văn học nói riêng đối với việc xây dựng, bồi đắp tâm hồn con người, làm cho cuộc sống ngày càng hoàn thiện.

2. Phân tích lời gửi của một tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 8 hoặc lớp 9.

Từ cách hiểu các ý kiến trên, học sinh viết về “lời gửi” của một “tác phẩm lớn” trong chương trình Ngữ văn lớp 8 hoặc lớp 9 đã làm “thay đổi hẳn” cách “nhìn”, cách “nghĩ” về con người và cuộc sống.

Sau đây là một số gợi ý:

- Giới thiệu những nét cơ bản về tác giả, tác phẩm.

- Phân tích để làm rõ:

+ “Lời gửi” của tác phẩm.

+ “Ánh sáng riêng” mà tác phẩm ấy (bằng nội dung và nghệ thuật) đã rọi vào tư tưởng, tình cảm, nhận thức của mỗi con người cũng như toàn xã hội.

+ Từ “lời gửi” và “ánh sáng” ấy, tác phẩm đã cảm hóa, lôi cuốn, giúp mỗi người tự thay đổi, tự nhận thức, tự xây dựng mình để được sống ý nghĩa hơn, phong phú hơn với cuộc đời và với chính mình.



THI THỬ LỚP 10 - TÂY HỒ NGÀY 19-5-2015

Thời gian: 120 phút

Phần I: (3 điểm)

Cho khổ thơ:

Bỗng nhận ra hương ổi

Phả vào trong gió se

Sương chùng chình qua ngõ

Hình như thu đã về


1. Em hãy nêu tên tác phẩm, tác giả, xuất xứ bài thơ.

2. Khổ thơ có những từ ngữ chỉ dấu cho nhan đề bài thơ. Hãy chỉ ra những từ ngữ ấy và giải thích vì sao?

Phần II: (3 điểm)

Cho câu văn sau: “Trong bài “Viếng lăng Bác”, ngoại cảnh chỉ được miêu tả chấm phá vài nét, còn chủ yếu tác giả bộc lộ tâm trạng, cảm xúc yêu thương, ngưỡng mộ của mình đối với chủ tịch Hồ Chí Minh”.

Coi câu văn trên là câu chủ đề, chọn một khổ thơ trong bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương, viết đoạn văn từ 8-10 câu, có một câu sử dụng thành phần biệt lập, để làm sáng tỏ nhận định ấy.

Phần III: (4 điểm)

Đọc kĩ câu chuyện sau và viết đoạn văn 15-20 câu cho biết em cảm nhận được gì qua nội dung câu chuyện, nhất là giờ đây em đang đứng trước một kì thi đòi hỏi bản thân phải nỗ lực rất nhiều.

"Tại thế vận hội đặc biệt Seattle (dành cho những người tàn tật) có chín vận động viên đều bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cùng tập trung trước vạch xuất phát để tham gia cuộc đua 100m. Súng hiệu nổ, tất cả đều cố lao về phía trước. Trừ một cậu bé, cậu ngã liên tục trên đường đua, cậu bé đã bật khóc. Tám người kia nghe thấy tiếng khóc, giảm tốc độ và ngoái lại nhìn. Sau đó tất cả đều quay trở lại không trừ một ai! Một cô bé bị hội chứng Down dịu dàng cúi xuống hôn cậu bé và nói: “Như thế này em sẽ thấy tốt hơn”. Cô bé nói xong cả chín người cùng khoác tay nhau sánh bước về vạch đích. Tất cả khán giả trong sân vận động đều đứng dậy vỗ tay hoan hô không dứt. Câu chuyện cảm động này đã lan truyền qua mỗi kỳ Thế vận hội về sau". (Theo "Quà tặng trái tim", NXB Trẻ 2003)


I
ĐÁP ÁN THI THỬ LỚP 10 TÂY HỒ NGÀY 19-5-2015
1“Sang thu” của Hữu Thỉnh , sáng tác năm 1977, mùa thu hòa bình đầu tiên.1.0
2.Khổ thơ có những từ ngữ chỉ dấu cho nhan đề bài thơ: hương ổi phả vào trong gió se, sương chùng chình0.5
Giải thích: tên bài thơ là “Sang thu”- khoảnh khắc giao mùa hạ sang thu. “hương ổi phả vào trong gió se, sương chùng chình qua ngõ” là các tín hiệu đặc trưng cho phút giao mùa ấy. Hương ổi nồng nàn cuối hả phả vào cơn gió se lành lạnh đầu thu, làn sương mỏng manh vốn tan biến rất mau trong mùa hạ chỉ khi sang thu mới “chùng chình”- cố ý đi chậm lại, giăng mắc trong ngõ nhỏ, làm không gian hư ảo đặc trưng cho mùa thu.1.5
IIHình thức : đoạn văn dài 8-10 câu, gạch chân và chú thích câu có thành phần biệt lập.1.0
Nội dung: phân tích một khổ thơ trong bài “Viếng lăng Bác” để làm rõ nhận định:
+ Ngoại cảnh chỉ được miêu tả chấm phá vài nét.

0.5
+ Chủ yếu tác giả bộc lộ tâm trạng, cảm xúc yêu thương, ngưỡng mộ của mình đối với Bác1.5
Đoạn văn tham khảo:
Trong bài “Viếng lăng Bác”, ngoại cảnh chỉ được miêu tả chấm phá vài nét, còn chủ yếu tác giả bộc lộ tâm trạng, cảm xúc yêu thương, ngưỡng mộ của mình đối với chủ tịch Hồ Chí Minh” ví như trong khổ thơ thứ nhất(1) :
Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát
Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam
Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng.

Khi đến trước lăng, tác giả chỉ tả chấm phá có mỗi hàng tre bên lăng : hàng tre ẩn hiện trong sương bát ngát, màu xanh xanh, đứng thẳng hàng (2). Tả ít gợi nhiều, tình cảm của tác giả bộc lộ ngay câu đầu “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” chỉ gỏn gọn như một lời thông báo nhưng lại gợi ra tâm trạng xúc động của người con từ chiến trường miền Nam sau bao nhiêu năm mong mỏi bây giờ mới được ra viếng Bác (3). Cách dùng đại từ xưng hô “con” rất gần gũi, thân thiết, ấm áp tình thân thương, cách nói giảm, nói tránh: từ “thăm” (Đến chơi để tỏ tìnhthân, sự quan tâm) thay cho từ “viếng” (Đến trước linh cữu hoặc lăng mộ để tỏ lòngthương tiếc), giảm nhẹ nỗi đau thương mất mát, ngụ ý Bác Hồ còn sống mãi trong tâm tưởng của mọi người (4). Hình ảnh hàng tre vừa tả thực vừa mang tính chất ẩn dụ tượng trưng, giàu ý nghĩa liên tưởng sâu sắc (5). Hàng tre ẩn hiện trong sương gợi không gian rộng mà thiêng liêng (6). “Ôi!” là từ cảm thán, biểu thị niềm xúc động tự hào trước hình ảnh hàng tre, chính là lòng tự hào dân tộc mình vừa chiến thắng oanh liệt(7). Từ đó tác giả có những suy ngẫm sâu sắc: Hàng tre là hình ảnh hết sức thân thuộc của làng quê, đất nước Việt Nam, đã thành một biểu tượng của dân tộc (8). Màu tre xanh mang biểu tượng của tâm hồn thanh cao, hiền hoà (“xanh xanh Việt Nam) nhưng cũng mang sức sống bền bỉ, kiên cường của dân tộc ta “Bão táp mưa sa đứng thẳng hàng” (9). Hình ảnh đẹp của hàng tre - dân tộc càng đẹp hơn khi quây quần về đây, bên Người, canh cho giấc ngủ của Người được bình yên vĩnh hằng (10).
Chú thích: Câu 4 là câu sử dụng thành phần biệt lập phụ chú.
IIIHình thức: đoạn văn dài 15-20 câu, trình bày mạch lạc, sạch sẽ1.0
Nội dung: Cảm nhận nội dung câu chuyện: nỗ lực vượt khó đi lên, đồng cảm sẻ chia, vị tha…
+ Nêu rõ sự việc hiện tượng có vấn đề: các vận động viên tham gia thi chạy ở một thế vận hội quốc tế, cuộc thi là thử thách lớn lao nhất là khi các vận động viên đều bị khuyết tật, đã có người bị vấp ngã liên tục trên đường chạy, bất lực mà bật khóc.
+ Đánh giá đúng sai: cuộc thi có ý nghĩa nhân đạo lớn, tất cả các vận động viên đều giành chiến thắng.
+ Nêu nguyên nhân: Khát vọng (dù khuyết tật các vận động viên đều muốn nỗ lực giành chiến thắng để khẳng định giá trị bản thân “có chín vận động viên đều bị tổn thương về thể chất hoặc tinh thần, cùng tập trung trước vạch xuất phát để tham gia cuộc đua 100m. Súng hiệu nổ, tất cả đều cố lao về phía trước”); Đồng cảm (khi có người bị vấp ngã, những người khác cùng quay lại an ủi, giúp đỡ rồi cùng khoác tay nhau về đích trong niềm vinh quang chung)
2.0
+ Bày tỏ thái độ, ý kiến, nhận định: học tập các vận động viên trong câu chuyện, cuộc sống dù khó khăn đến mấy vẫn nỗ lực vươn lên, đồng cảm và vị tha với những hoàn cảnh khó khăn khác. Là học sinh lớp 9, đứng trước kì thi khó khăn cũng cần tinh thần vươn lên, lạc quan, đoàn kết giúp nhau ôn luyện kiến thức, kĩ năng, làm bài trung thực…để khẳng định mình, cùng nhau giành chiến thắng vinh quang.1.0



Phòng GD&ĐT VIỆT YÊN
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10
MÔN: NGỮ VĂN
NĂM: 2014 - 2015


ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10 MÔN VĂN NĂM 2014 - VIỆT YÊN, BẮC GIANG



Câu 1
(2 điểm): Cho đoạn văn sau:

“Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân. Ông lão lặng đi, tưởng như đến không thể được. Một lúc lâu ông mới rặn è è, nuốt một cái gì vướng ở cổ, ông cất tiếng hỏi, giọng lạc hẳn đi:

- Liệu có thật không hở bác? Hay là chỉ lại ...”

(Làng – Kim Lân )

a. Đoạn văn trên viết về nhân vật nào? Em hãy tìm và gọi tên thành phần biệt lập có trong đoạn văn trên.

b. Dấu chấm lửng trong câu văn: “Hay là chỉ lại ...” có tác dụng gì?

Câu 2 (3 điểm):

Về chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới, ông Vũ Khoan viết: “Sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất.”

(Sách Ngữ văn lớp 9, tập hai-NXB Giáo dục, 2006, tr.27)

Viết một bài văn ngắn (khoảng một trang giấy thi) trình bày ý kiến của em về vấn đề trên.

Câu 3 (5 điểm):

Suy nghĩ về cảm xúc của Viễn Phương khi vào lăng viếng Bác được thể hiện trong đoạn thơ:

Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ .

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân ...



Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

Vẫn biết trời xanh là mãi mãi

Mà sao nghe nhói ở trong tim !

(Viếng lăng Bác - Viễn Phương)



ĐÁP ÁN

CÂUÝNỘI DUNGĐIỂM
Câu 1
2 điểm
a.

b.
- Đoạn văn viết về nhân vật ông Hai .
- Thành phần biệt lập là thành phần tình thái: tưởng như.
Dấu chấm lửng có tác dụng:
- Đánh dấu lời nói ngập ngừng, đứt quãng của ông Hai.
- Qua đó thể hiện tâm trạng: hoài nghi, ngờ ngợ của ông Hai trước cái tin làng Chợ Dầu theo Tây.
0,25đ
0,25đ

0,25đ
0,25đ
Câu 2
3 điểm
aVề kĩ năng
- Viết được bài văn ngắn có bố cục ba phần hoàn chỉnh, lập luận chặt chẽ, diễn đạt lưu loát, không mắc lỗi chính tả, diễn đạt....
- Có quan điểm riêng phù hợp thể hiện rõ vai trò của con người trong thế kỉ mới.








1 đ














bVề nội dung
Học sinh có thể trình bày theo nhiều cách. Dưới đây là một số gợi ý định hướng chấm bài.
1. Giải thích:
- Giới thiệu xuất xứ: câu nói trích trong bài báo “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” của Vũ Khoan. Đối tượng đối thoại của tác giả là lớp trẻ ViệtNam, chủ nhân của đất nước ta trong thế kỉ XXI.
- Sự chuẩn bị bản thân con người (hành trang vào thế kỉ mới) ở đây được dùng với nghĩa là hành trang tinh thần như tri thức, kĩ năng, nhân cách, thói quen lối sống...để đi vào một thế kỉ mới
2. Tại sao bước vào thế kỉ mới, hành trang quan trọng nhất là sự chuẩn bị bản thân con người?
- Vì con người là động lực phát triển của lịch sử.
- Vai trò con người càng nổi trội trong thế kỉ XXI, khi nền kinh tế tri thức sẽ phát triển mạnh mẽ, sự hội nhập kinh tế, văn hoá toàn cầu diễn ra là cơ hội, thách thức sự khẳng định mỗi cá nhân, dân tộc.
3. Làm gì cho việc chuẩn bị bản thân con người trong thế kỉ mới:
- Tích cực học tập tiếp thu tri thức.
- Rèn luyện đạo đức, lối sống đẹp, có nhân cách, kĩ năng sống chuẩn mực.
- Phát huy điểm mạnh, từ bỏ thói xấu, điểm yếu.
- Thấy được trách nhiệm, bổn phận của cá nhân đối với việc chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới.
Câu 3
5 điểm
aVề kĩ năng
- Biết cách viết một bài văn nghị luận về một đoạn thơ.
- Văn phong trong sáng, có cảm xúc, lập luận chặt chẽ, bố cục mạch lạc; không mắc lỗi chính tả, diễn đạt...

0,5đ


0,5 đ
1 đ

0,5 đ

0,5 đ

0,5 đ

0,5 đ


0,5 đ
0,5 đ
bVề kiến thức
Học sinh có thể sắp xếp các luận điểm theo nhiều cách khác nhau nhưng về cơ bản, cần đảm bảo những nội dung sau:
* Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm, vị trí của đoạn thơ.
* Đến bên lăng, tác giả thể hiện tình cảm kính yêu sâu sắc của nhân dân với Bác
- Ngày ngày mặt trời của thiên nhiên vẫn toả sáng trên lăng , vẫn tuần hoàn tự nhiên và vĩnh cửu
- Từ mặt trời của tự nhiên tác giả đã liên tưởng và ví Bác như mặt trời - mặt trời cách mạng đem đến ánh sáng cho cuộc đời, hạnh phúc cho cuộc đời, độc lập tự do cho dân tộc - Sự vĩ đại, thể hiện sự tôn kính của nhân dân đối với Bác
- Hình ảnh dòng người...... sự so sánh đẹp – tình cảm thương nhớ kính yêu của nhân dân với Bác
- Không gian trong lặng yên thiêng liêng và ánh sáng thanh khiết dịu nhẹ được diễn tả: hình ảnh ẩn dụ vầng trăng sáng dịu hiền –nâng niu giấc ngủ bình yên của Bác .
- Giấc ngủ bình yên: cảm giác Bác vẫn còn đó đang ngủ một giấc ngon sau một ngày làm việc vất vả
- Giấc ngủ có trăng vỗ về .Trong giấc ngủ vĩnh hằng có trăng làm bạn
- Vẫn biết trời xanh.... trong tim: Biết rằng Bác đã sống mãi, hoà vào thiên nhiên sông núi nhưng lòng vẫn quặn đau, một nỗi đau nhức nhối tận tâm can
-Niềm xúc động thành kính và nỗ đau xót của nhà thơ được biểu hiện rất chân thành sâu sắc.
* Khẳng định sự kính trọng, biết ơn của nhà thơ với Bác.
 
Sửa lần cuối:

Bài Trước

Tổng hợp đề thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn có hướng dẫn

Bài Tiếp

Top tổng hợp những đề thi vào lớp 10 môn Ngữ văn Hay

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
TRƯỜNG THPT CHUYÊN
NGUYỄN HUỆ

ĐỀ CHÍNH THỨC​
ĐỀ THI THỬ TUYỂN SINH VÀO LỚP 10
Lần thứ 2 - 2016
Môn Ngữ Văn chung (
Đề có 01 trang)
Thời gian làm bài 120 phút không kể thời gian giao đề


Phần I (4.0 điểm) Cho đoạn văn sau:
(1) Nhìn lũ con, tủi thân, nước mắt ông lão cứ giàn ra.(2) Chúng nó cũng là trẻ con làng Việt gian đấy ư ? (3) Chúng nó cũng bị người ta rẻ rúng hắt hủi đấy ư ? (4) Khốn nạn, bằng ấy tuổi đầu ...(5) Ông lão nắm chặt hai tay lại mà rít lên:
- (6) Chúng bay ăn miếng cơm hay miếng gì vào mồm mà đi làm cái giống Việt gian bán nước để nhục nhã thế này.

(Ngữ Văn 9 tập 1- Nhà xuất bản Giáo dục 2015)​
Câu 1: Cho biết đoạn văn trên trích trong tác phẩm nào? Ai là tác giả? Nêu hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm đó?
Câu 2: Xác định những câu là lời độc thoại nội tâm trong đoạn văn trên. Những lời độc thoại nội tâm ấy thể hiện tâm trạng gì của nhân vật?
Câu 3: Hãy viết một đoạn văn giới thiệu về nhân vật “ông lão” trong tác phẩm được xác định ở câu hỏi 1 (viết không quá nửa trang giấy thi).

Phần II (6.0 điểm)
Người đồng mình yêu lắm con ơi Đan lờ cài nan hoa…
Câu 1: Chép tiếp 5 dòng thơ tiếp theo để hoàn chỉnh đoạn thơ. Nêu tên tác giả của bài thơ trên. Câu 2: Chỉ ra 2 biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên và nêu tác dụng của chúng.
Câu 3: Hãy viết đoạn văn theo cách lập luận tổng hợp - phân tích - tổng hợp (từ 10-12 câu) nêu cảm nhận của em về đoạn thơ vừa chép ở câu hỏi 1. Đoạn văn có sử dụng phép thế và câu có thành phần phụ chú. Gạch chân dưới thành phần phụ chú và phép thế.
Câu 4: Từ lời tâm sự của người cha với con trong bài thơ trên, cùng với những kiến thức xã hội mà em có, hãy nêu thái độ và tình cảm mà mỗi người cần có với gia đình và quê hương (viết từ 5-7 dòng).

………..…Hết………….

Họ và tên thí sinh………………………………….Số báo danh………………………

Hướng dẫn chấm và biểu điểm Môn Văn chung
Phần I

Câu
Ý
Điểm
Câu 1
1.0 điểm
Đoạn văn trên trích trong tác phẩm Làng của Kim Lân.
Hoàn cảnh sáng tác: 1948 những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp.
0.5
0.5​
Câu 2
1.0 điểm
Độc thoại nội tâm: câu 2,3,4.
Thể hiện tâm trạng: nỗi đau đớn, xót xa của ông Hai, thương thân, thương con khi nghĩ đến những đứa con của mình bị hắt hủi, xa lánh vì chúng là trẻ con của làng Chợ Dầu (trong tình huống có tin làng Chợ Dầu theo giặc).
0.5​


0.5​
Câu 3
2.0 điểm
Cần nêu các ý sau:
Ông Hai – người nông dân quê ở làng Chợ Dầu - là người có tình yêu làng tha thiết, mãnh liệt.
+ Ông luôn kể và khoe, tự hào về làng Chợ Dầu của mình. Đi sơ tán, ông nhớ không nguôi về làng mình, nhớ những ngày ở làng tích cực chuẩn bị kháng chiến: đào đường, đắp ụ...
+ Nghe tin làng Chợ Dầu Việt gian theo Tây, ông choáng váng, đau đớn, tủi nhục… Ông đã trải qua những ngày căng thẳng, đấu tranh tư tưởng gay gắt giữa một bên là tình yêu làng, một bên là lòng trung thành với cách mạng và kháng chiến.
Khi tin được cải chính, ông vô cùng vui sướng, đi khoe về làng - mặc dù nhà ông đã bị đốt nhẵn… Tình yêu làng và yêu nước trong ông đã hòa làm một.
Ông Hai là hình ảnh tiêu biểu cho người nông dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp.

0.5​


0.25​



0.5​





0.5​



0.25​

Phần II (6.0 điểm)

Câu​
Ý
Điểm
Câu 1
1.0 điểm
Chép đúng đoạn thơ theo văn bản sách giáo khoa
Tác giả của bài thơ trên: Y Phương
0.5
0.5​
Câu 2​
- Các biện pháp tu từ (Thí sinh chỉ cần nêu 2 biện pháp tu từ sau trong số các biện pháp tu từ được sự dụng trong đoạn thơ) như:
+ Ẩn dụ: vách nhà ken câu hát
+ Nhân hóa: rừng cho hoa. Con đường cho tấm lòng
+ Điệp ngữ: cho
0,5​

- Tác dụng:
+ Ca ngợi cuộc sống vui tươi lạc quan của người đồng mình
+ Nhấn mạnh ân tình của quê hương với mỗi người, quê hương cho con người những gì đẹp đẽ nhất, ân tình nhất; cảnh vật trở nên sinh động

0.5​
Câu 3
3.5 điểm
* Nội dung (2,0 điểm)
Đoạn văn cần nêu các ý sau:
- Đoạn thơ là lời ngợi ca những phẩm chất tốt đẹp của những con người trên quê hương mình.
+ Người đồng mình là những con người đáng yêu, tài hoa, khéo léo
+ Sống lạc quan, hồn nhiên, vô tư.
+ Gắn bó với quê hương.
- Nghệ thuật: ẩn dụ, nhân hóa, điệp từ..


* Hình thức (1.5 điểm)
Đúng mô hình đoạn tổng phân hợp
Có phép thế và gạch chân.
Có thành phần phụ chú, gạch chân.



0.5​


0.5
0.25
0.25
0.5​



0.5
0.5
0.5​
Câu 4
0.5 điểm
Thí sinh có thể diễn đạt theo những cách khác nhau, song cần bày tỏ rõ thái độ và tình cảm của bản thân đối với gia đình và quê hương. Tình cảm phải chân thành.
VD:
Gia đình và quê hương là nơi chúng ta được sinh ra, nơi nuôi chúng ta khôn lớn.
Thái độ: Yêu mến, gắn bó với gia đình và quê hương, sống có trách nhiệm với gia đình, có trách nhiệm và bảo vệ quê hương.






0.25


0.25
 

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
TRƯỜNG THCS TIỀN TIẾN
ĐỀ KHẢO SÁT VÀO LỚP 10 THPT (Lần 2)
Năm học 2015-2016
MÔN NGỮ VĂN

Thời gian làm bài: 120 phút
Câu 1 (2,0 điểm):

“… Từ hồi về thành phố

quen ánh điện, cửa gương

vầng trăng đi qua ngõ

như người dưng qua đường…”


Đoạn thơ trên trích từ văn bản nào? Do ai sáng tác?

Chỉ ra và phân tích tác dụng của các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên?

Câu 2 (3 điểm): Viết một bài văn ngắn trình bày suy nghĩ của em về ý kiến sau:

“Khi giao tiếp cần tế nhị và tôn trọng người khác”

Câu 3 (5 điểm): Vẻ đẹp của nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân

================= Hết==================

HƯỚNG DẪN CHẤM

Câu
Yêu cầu
Điểm
Câu 1
( 2 điểm)
















Câu 2
( 3 điểm)






a. Đoạn thơ trên trích từ văn bản “Ánh trăng” của nhà thơ Nguyễn Duy.
b. Các biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ:.
- Nhân hóa: Vầng trăng đi qua ngõ
=> Vầng trăng hiện lên sinh động, có hồn như con người.
- So sánh: Vầng trăng đi qua ngõ như người dưng qua đường
=> Nhấn mạnh sự hờ hững, vô tình của nhân vật trữ tình với vầng trăng (vầng trăng không còn ở trên cao xa vời vợi mà đã đến rất gần với con người nhưng con người vẫn coi trăng là người dưng.)
- Liệt kê: Ánh điện, cửa gương.
=> Tô đậm cuộc sống tiện nghi hiện đại ở thành phố của nhân vật trữ tình.
* Học sinh có thể chỉ ra các biện pháp tu từ sau đó phân tích tác dụng (các biện pháp tu từ góp phần tô đậm cuộc sống tiện nghi hiện đại ở thành phố, vầng trăng vẫn rất gần gũi với con người nhưng con người lại vô tình với vầng trăng, vô tình với quá khứ đẹp đẽ ngày nào….) vẫn cho đủ điểm.

Yêu cầu về kĩ năng:

- Học sinh xác định đúng phương pháp làm bài văn nghị luận chứng minh kết hợp với các thao tác giải thích, phân tích đã học ở lớp 7. Lời văn chính xác, chân thật.
- Bố cục 3 phần rõ ràng, mạch lạc.
- Hạn chế các lỗi về chính tả, diễn đạt, ngữ pháp.
Yêu cầu về kiến thức: Học sinh thể hiện được những nội dung cơ bản sau:
Mở bài: Giới thiệu được ý kiến:
Có những cách giao tiếp đem lại niềm vui và hạnh phúc cho người khác. Có những cách giao tiếp mang lại sự đau khổ và lòng thù hận. Để có một kết quả tốt đẹp khi giao tiếp cần phải biết tế nhị và tôn trọng người khác.
Thân bài:
1. Giải thích:

- Tế nhị: tỏ ra khéo léo, nhã nhặn trong quan hệ đối xử, biết nghĩ đến những điểm nhỏ thường dễ bị bỏ qua.
- Tôn trọng: tỏ thái độ đánh giá cao và cho là không được vi phạm hay xúc phạm đến.
2. Phân tích, bàn luận, mở rộng vấn đề:
- Tế nhị, tôn trọng người khác là những phẩm chất cực kì quan trọng trong giao tiếp
- Biết tế nhị và tôn trọng người khác trong giao tiếp sẽ dẫn đến sự hài hòa, vui vẻ và những kết quả tốt đẹp. Để biết tế nhị và tôn trọng người khác đòi hỏi phải có sự từng trải, sâu sắc, tinh tế và được giáo dục kĩ. Phải biết tôn trọng người khác thì mới được người khác tôn trọng lại. Phải biết tế nhị với người khác
- Phê phán những người tự cao, lỗ mãng, hời hợt không biết tôn trọng người khác thường dẫn đến những bi lịch đau đớn trong cuộc sống, làm việc gì cũng thất bại.
- Có đôi lúc đòi hỏi chúng ta phải can đảm “thiếu tế nhị” để nói thẳng sự thật dù đó là sự thật xúc phạm và làm đau lòng người thì mới mong nhận lại được sự tế nhị (dẫn chứng).
3. Bài học nhận thức- hành động:
Mỗi người phải tự nhắc nhở mình hàng ngày về việc giao tiếp tế nhị và biết tôn trọng người khác.
c. Kết bài:
- Giao tiếp biết tế nhị và tôn trọng người khác là chìa khóa để mang lại thành công và hạnh phúc. Đó là một trong những phẩm chất cần thiết của con người để tạo nên một xã hội có văn hóa, tốt đẹp và văn minh.
0,5 điểm


0,25 điểm
0,25 điểm
0,25 điểm

0,25 điểm

0,25 điểm

0,25 điểm












0,25 điểm





0,25 điểm

0,25 điểm


0,5 điểm

0,5 điểm



0,25 điểm

0,25 điểm


0,5 điểm


0,25 điểm

Câu 3
(5 điểm)
Yêu cầu về kĩ năng:
- Học sinh biết cách làm bài văn nghị luận về một nhân vật trong tác phẩm văn học, văn viết trong sáng, có cảm xúc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, ngữ pháp
- Bố cục 3 phần rõ ràng, mạch lạc.
Yêu cầu về kiến thức:
Trên cơ sở nắm vững kiến thức về tác giả, tác phẩm Làng học sinh cần làm rõ các ý cơ bản sau:
a. Mở bài: - Giới thiệu tác giả, tác phẩm, nhân vật.
b. Thân bài: Phân tích cụ thể vẻ đẹp của nhân vật ông Hai
* Nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân mang vẻ đẹp của người nông dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp: yêu làng, yêu nước (ở nhân vật này tình yêu làng cũng là tình yêu nước)
+ Ở nơi tản cư, ông luôn nhớ về làng mình: nhớ những ngày kháng chiến, nhớ anh em đồng chí…
+ Luôn quan tâm đến kháng chiến, đến sự nghiệp chung của dân tộc: ông đến phòng thông tin để nghe tin tức về kháng chiến và sung sướng hả hê khi nghe những thông tin có lợi cho ta….
+ Tình yêu làng, yêu nước được thể hiện sâu sắc và cảm động qua tâm trạng của ông hai khi nghe tin làng mình theo giặc:
- Từ bất ngờ, hổ thẹn, đau đớn, tủi nhục, lo lắng.
- Bị ám ảnh, day dứt với mặc cảm là kẻ phản bội.
- Mâu thuẫn nội tâm: yêu làng và thù làng.
- Tấm lòng thủy chung, son sắt với quê hương đất nước thể hiện trong câu chuyện cảm động với đứa con nhỏ.
+ Yêu làng, yêu nước ông vui sướng, hạnh phúc khi nghe tin cải chính về làng mình: Nét mặt ông tươi vui rạng rỡ, gặp ai ông cũng níu lại cười cười, ông chia quà cho các con, khoe làng…
* Nghệ thuật xây dựng nhân vật:
- Lựa chọn tình huống độc đáo.
- Diễn tả tâm lý nhân vật tinh tế góp phần thể hiện sâu sắc và cảm động tình yêu làng, yêu nước của nhân vật ông Hai.
c. Kết bài:
- Cảm xúc của bản thân về nhân vật.







0,5điểm

0,25điểm


0,25điểm

0,25điểm

2 điểm





0,5điểm


0,25điểm
0,5điểm

0,5điểm
 

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
TRƯỜNG THPT CHUYÊN QUỐC HỌC HUẾ
ĐỀ THI THỬ VÀO LỚP 10
MÔN: NGỮ VĂN
NĂM HỌC: 2014 - 2015


Câu 1: Đọc đoạn trích và trả lời các câu hỏi sau:


“(1) Mỗi chiếc lá rụng có một linh hồn riêng, một tâm tình riêng, một cảm giác riêng. (2) Có chiếc tựa mũi tên nhọn, tự cành cây rơi cắm phập xuống đất như cho xong chuyện, cho xong một đời lạnh lùng, thản nhiên, không thương tiếc, không do dự vẩn vơ. (3) Có chiếc lá như con chim bị lảo đảo mấy vòng trên không, rồi cố gượng ngoi đầu lên, hay giữ thăng bằng cho chậm tới cái giây nằm phơi trên mặt đất. (4) Có chiếc lá nhẹ nhàng khoan khoái đùa bỡn, múa may với làn gió thoảng (…).”

(Khái Hưng, Ngữ văn 6, tập hai, trang 42)​

1.1 Nội dung đoạn văn trên được trình bày theo cách nào? Vì sao?

1.2 Xét về cấu tạo, các câu (2), (3), (4) trong đoạn văn thuộc kiểu câu gì? Tác dụng của kiểu câu đó trong đoạn văn?

Câu 2: Đọc hai câu chuyện sau và thực hiện các yêu cầu:

Câu chuyện 1


Một người nuôi trai lấy ngọc luôn suy nghĩ làm thế nào để tạo được viên ngọc trai tốt nhất, đẹp nhất trên đời. Ông ra bãi biển để chọn một hạt cát và hỏi từng hạt cát có muốn biến thành ngọc trai không. Các hạt cát đều lắc đầu nguầy nguậy khiến ông sắp tuyệt vọng.

Đúng lúc đó có một hạt cát đồng ý, các hạt cát khác đều giễu nó ngốc, chui đầu vào trong vỏ trai, xa lánh người thân, bạn bè, không thấy ánh mặt trời, trăng sao, gió mát, thậm chí thiếu cả không khí, chỉ có bóng tối, ướt lạnh, cô đơn, rất đau buồn, thử hỏi có đáng không? Nhưng hạt cát vẫn theo người nuôi trai về không một chút oán thán.

Vật đổi sao dời, mấy năm qua đi, hạt cát đã trở thành viên ngọc lung linh, đắt giá, còn những bạn bè chế giễu nó ngốc thì vẫn chỉ là những hạt cát…

Câu chuyện 2

Không hiểu bằng cách nào, một hạt cát lọt được vào bên trong cơ thể một con trai. Vị khách không mời mà đến đó tuy rất nhỏ, nhưng gây rất nhiều khó chịu và đau đớn cho cơ thể mềm mại của con trai. Không thể tống hạt cát ra ngoài, cuối cùng con trai quyết định đối phó bằng cách tiết ra một chất dẻo bọc quanh hạt cát.

Ngày qua ngày, con trai đã biến hạt cát gây ra những nỗi đau cho mình thành một viên ngọc trai lấp lánh tuyệt đẹp...

2.1. Hãy đặt một nhan đề chung thể hiện hàm ý của cả hai câu chuyện trên.

2.2. Bằng một văn bản (dài không quá một trang rưỡi giấy thi), trong đó có sử dụng một khởi ngữ và một câu hỏi tu từ (gạch chân, xác định), hãy nêu suy nghĩ về bài học cuộc sống em nhận được từ hai câu chuyện.

Câu 3:

“Lời gửi của văn nghệ là sự sống”.

“Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một áng riêng, () và chiếu tỏa lên mọi việc chúng ta sống, (…) làm cho thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ”.

(Nguyễn Đình Thi, dẫn theo Ngữ văn 9, tập hai, trang 14)​

Từ việc tìm hiểu các ý kiến trên, hãy viết về “lời gửi” của một tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 8 hoặc lớp 9 đã làm “thay đổi hẳn” cách “nhìn”, cách “nghĩ” của em về con người và cuộc sống.

Đáp án

Câu 1:

1.1 Nội dung đoạn văn được trình bày theo cách diễn dịch.


- Vì: đoạn văn có câu chủ đề đứng đầu đoạn. Các câu còn lại trong đoạn văn cùng hướng đến làm nổi bật ý đã nêu ở câu chủ đề.

1.2 Xét về cấu tạo, các câu (2), (3), (4) trong đoạn văn thuộc kiểu câu đặc

biệt ( không cấu tạo theo mô hình chủ ngữ - vị ngữ).


- Tác dụng của kiểu câu đó trong đoạn văn: liệt kê, thông báo về sự tồn tại của sự vật, hiện tượng: tăng tính thẩm mĩ, ấn tượng cho đoạn văn.

Câu 2:

2.1 Yêu cầu:


- Nhan đề được đặt phải chứa hàm ý gắn với nội dung ý nghĩa chung của hai câu chuyện.

- Nhan đề được đặt cần ngắn gọn, súc tích, giàu tính hình tượng, thẩm mĩ.

2.2.

A.Yêu cầu về kĩ năng:


- Học sinh viết văn bản nghị luận xã hội ( kiểu bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí) có kết cấu ba phần: Mở bài – Thân bài – Kết bài, dài không quá một trang rưỡi giấy thi. Bài viết có bố cục hợp lí, mạch lạc; diễn đạt trôi chảy; chữ viết rõ ràng, trình bày sạch sẽ.

- Bài viết có sử dụng một khởi ngữ, một câu hỏi tu từ ( gạch chân, xác định).

B. Yêu cầu về kiến thức:

- Học sinh nêu suy nghĩ về bài học cuộc sống nhận được từ hai câu chuyện.

- Học sinh có thể trình bày bằng nhiều cách. Sau đây là một số gợi ý:

* Nội dung tư tưởng của hai câu chuyện:

- Câu chuyện 1:


+ Trong cuộc sống, có những người do ngại khó, ngại khổ, chưa nhận ra giá trị đằng sau những khó khăn, thử thách mà thiếu cố gắng, nỗ lực, thiếu ý chí, quyết tâm…, chấp nhận làm “hạt cát” bé nhỏ, tầm thường.

+ Từ “hạt cát” tầm thường, để trở thành “ngọc trai” quý giá, con người phải chấp nhận trải qua một quá trình thử thách gian khổ.

+ Có thử thách trong gian khổ, tôi luyện trong gian nan, con người mới có thể thành công trong cuộc sống, đạt tới đỉnh vinh quang.

- Câu chuyện 2:

+ Cuộc sống vốn tiềm ẩn những khó khăn, biến cố bất thường.

+ Trước những khó khăn, biến cố đó, con người cần biết chấp nhận, đối mặt với khó khăn, thử thách để vượt lên; hơn thế nữa, cần kiên trì, nỗ lực, quyết tâm, chủ động biến thử thách thành cơ hội.

+ Có dũng cảm đối mặt, có nỗ lực, kiên trì…, con người mới tạo ra được những thành quả có ý nghĩa, cống hiến cho đời.

* Bài học cuộc sống từ hai câu chuyện:

- Mỗi con người cần có ý chí, nghị lực, dám đối mặt và sẵn sàng chấp nhận khó khăn, gian khổ trong cuộc sống. Đó chính là mấu chốt của thành công.

Trong những hoàn cảnh đặc biệt, khi gặp biến cố bất thường hay phải đối diện với cái xấu… con người cần chủ động, quyết tâm, luôn có ý thức vượt qua để đạt tới thành công.

- Khó khăn, gian khổ cũng chính là điều kiện, là cơ hội để thử thách và tôi luyện ý chí con người. Vượt qua nó, con người sẽ trưởng thành, tự khẳng định được mình, sống có ý nghĩa hơn và đóng góp cho cuộc đời nhiều hơn.

Học sinh cần trình bày “bài học cuộc sống” với tình cảm chân thành, sâu sắc; nêu được những vấn đề thực sự có ý nghĩa đối với cá nhân và cộng đồng.

Câu 3:

1. Giải thích các ý kiến:

* Về ý kiến: “Lời gửi của văn nghệ là sự sống”.


- Văn nghệ là một loại hình nghệ thuật có giá trị to lớn trong việc tác động vào tư tưởng, tình cảm, nhận thức của mỗi người cũng như toàn xã hội: đem đến cho con người một thế giới phong phú.

- “Lời gửi” của văn nghệ và các loại hình nghệ thuật khác chính là cuộc sống, là sự sống; góp phần làm cho đời sống nhân sinh ngày càng tốt đẹp hơn. Tác giả - người sáng tạo ra tác phẩm, chính là người đem “lời gửi” – thông điệp về đời sống và con người – đến với các thế hệ bạn đọc.

* Về ý kiến: “Mỗi tác phẩm lớn như rọi vào bên trong chúng ta một áng riêng, (…) và chiếu tỏa lên mọi việc chúng ta sống, (…) làm cho thay đổi hẳn mắt ta nhìn, óc ta nghĩ”.”

- Tác phẩm văn học lớn có khả năng kì diệu trong việc tác động vào tư tưởng, tình cảm, nhận thức của mỗi người cũng như toàn xã hội; để lại những ấn tượng sâu sắc, có giá trị lâu dài.

- Mỗi tác phẩm văn học lớn đều đặt ra và giải quyết vấn đề theo một cách riêng của nhà văn và cũng được bạn đọc tiếp nhận theo những con đường riêng.

- Tác phẩm văn học lớn đánh thức những cảm xúc tốt đẹp trong tâm hồn độc giả, giúp con người tự nhận thức, xây dựng và phấn đấu hoàn thiện mình một cách toàn diện, bền vững.

=> Hai ý kiến ngắn gọn, cô động, sâu sắc cùng hướng đến thể hiện nội dung, vai trò của văn nghệ nói chung và tác phẩm văn học nói riêng đối với việc xây dựng, bồi đắp tâm hồn con người, làm cho cuộc sống ngày càng hoàn thiện.

2. Phân tích lời gửi của một tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 8 hoặc lớp 9.

Từ cách hiểu các ý kiến trên, học sinh viết về “lời gửi” của một “tác phẩm lớn” trong chương trình Ngữ văn lớp 8 hoặc lớp 9 đã làm “thay đổi hẳn” cách “nhìn”, cách “nghĩ” về con người và cuộc sống.

Sau đây là một số gợi ý:

- Giới thiệu những nét cơ bản về tác giả, tác phẩm.

- Phân tích để làm rõ:

+ “Lời gửi” của tác phẩm.

+ “Ánh sáng riêng” mà tác phẩm ấy (bằng nội dung và nghệ thuật) đã rọi vào tư tưởng, tình cảm, nhận thức của mỗi con người cũng như toàn xã hội.

+ Từ “lời gửi” và “ánh sáng” ấy, tác phẩm đã cảm hóa, lôi cuốn, giúp mỗi người tự thay đổi, tự nhận thức, tự xây dựng mình để được sống ý nghĩa hơn, phong phú hơn với cuộc đời và với chính mình.
Trường THCS NGHI VĂN
KỲ THI THỬ VÀO LỚP 10
MÔN: NGỮ VĂN
NĂM: 2014 - 2015


Câu 1:
(2,0 điểm)

Cho đoạn văn:

“…Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất. Từ cổ chí kim, bao giờ con người cũng là động lực phát triển của lịch sử. Trong thế kỉ tới mà ai ai cũng thừa nhận rằng nền kinh tế tri thức sẽ phát triển mạnh mẽ thì vai trò con người lại càng nổi trội”.

(Ngữ văn 9, Tập 2, NXBGD )

a. Đoạn văn trên được trích từ văn bản nào? Tác giả là ai?

b. Câu chủ đề của đoạn văn trên là câu nào?

c. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn?

d. Từ được in đậm trong câu “Trong những hành trang ấy, có lẽ sự chuẩn bị bản thân con người là quan trọng nhất.” là thành phần biệt lập gì ?

Câu 2: (3,0 điểm)

Cảm nhận của em về nhân vật bác Phi – líp trong văn bản Bố của Xi – mông của nhà văn Pháp Guy đơ Mô – pa - xăng.Từ nhân vật bác Phi – líp suy nghĩ về lòng nhân ái của con người trong cuộc sống.

Câu 3: (5,0 điểm)

Phân tích đoạn đoạn thơ sau:

“Ngửa mặt lên nhìn mặt

có cái gì rưng rưng

như là đồng là bể

như là sông là rừng



Trăng cứ tròn vành vạnh

kể chi người vô tình

ánh trăng im phăng phắc

đủ cho ta giật mình.”

(Trích Ánh trăng – Nguyễn Duy, Ngữ văn 9 – Tập I)


ĐÁP ÁN

Câu 1:
(2,0 điểm)

Chiết đến 0,25 điểm.

a. Đoạn văn trên trích từ văn bản Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới (0,25 điểm), tác giả Vũ Khoan (0,25 điểm).

b. Câu chủ đề là câu 1 (0,5 điểm).

c. Phương thức biểu đạt chính của đoạn văn là phương thức lập luận (0,5 điểm).

d. Từ “có lẽ” là thành phần biệt lập tình thái (0,5 điểm).

Câu 2: (3,0 điểm)

a. Mở bài: (0,25 điểm)

Đi từ tác giả đến tác phẩm đến nhân vật.

b. Thân bài: (2,5 điểm)

* Cảm nhận về bác Phi Líp: (1,5 điểm)

Bác phi líp là người lao động bình thường, giản dị và có phẩm chất tâm hồn đẹp đẽ.

Ý 1: Cảm nhận về ngoại hình.

Ý 2: …Tâm hồn đẹp đẽ:

- Bác là người nhân hậu, vị tha, không thờ ơ trước nỗi đau của người khác.

- Bác là người rất cao thượng, bao dung.

* Suy nghĩ về lòng nhân ái của con người trong cuộc sống: (1,0 điểm)

- Học sinh hiểu được lòng nhân ái chính là biết yêu thương sẻ chia, quan tâm đến mọi người.

- Trong cuộc sống hiện nay có biết bao người có lòng nhân ái bao la. Đó là con cái yêu thương Cha mẹ, ông bà, anh em ruột thịt yêu thương đùm bọc lẫn nhau, bạn bè, bà con lối xóm khi tối lửa tắt đèn có nhau.

+ Yêu thương không chỉ bằng lời nói suông mà bằng những hành động cụ thể…..

- Biểu hiện cao nhất của lòng nhân ái là đức hy sinh.

+ Những chiến sĩ đã cống hiến tuổi xuân cho đất nước (chống Pháp và chống Mĩ)

+ Các chiến sĩ đang ngày đêm bảo vệ vùng trời vùng biển (liên hệ tới việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan HD981)

- Lòng nhân ái chính là truyền thống của dân tộc ta.

c. Kết bài: (0,25 điểm)

Qua nhân vật bác Phi – líp, tác giả đã gửi đến chúng ta bức thông điệp…

Câu 3: (5,0 điểm)

a. Mở bài:

Giới thiệu đoạn thơ, nêu rõ vị trí của đoạn.Khái quát nội dung (có thể nêu ở thân bài). (0,25 điểm)

b. Thân Bài: (4,5 điểm)

1. Luận điểm: (0,5 điểm)

Hai khổ thơ cuối ghi lại tình huống gặp lại vầng trăng và sự thức tỉnh, một bài học làm người.

2: Phân tích: (4,0 điểm)

Ý 1: Người lính (con người) gặp lại vầng trăng (người bạn cũ…) trong một tình huống thật bất ngờ khó trốn chạy.....Trong khoảnh khắc ấy, người lính năm xưa bàng hoàng thức tỉnh. Bao kỉ niệm xưa ùa về….

Nghệ thuật: Từ láy (rưng rưng), điệp ngữ (như là) thể hiện sự rung động xao xuyến hướng về kỉ niệm tốt đẹp, ân hận vì nhận ra lỗi lầm của mình.

Ý 2: Trăng (người bạn cũ, quá khứ) vẫn thủy chung mặc cho ai thay lòng đổi dạ. Trăng vẫn bao dung độ lượng, không đòi hỏi đền đáp.

c. Kết bài: (0,25 điểm)

Khái quát ý nghĩa đoạn thơ:

Đoạn thơ có ý nghĩa triết lí sâu sắc, thức tỉnh những ai dễ dàng lãng quên quá khứ tốt đẹp. Cần biết sống thủy chung, nghĩa tình.
 
Top