Chia Sẻ Cuộc đấu tranh giữa hai phe chủ chiến và chủ hoà trong nội bộ triều đình nhà Nguyễn

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Top Poster Of Month
31/10/12
5,117
325
83
27
Cuộc đấu tranh giữa hai phe chủ chiến và chủ hoà trong nội bộ triều đình nhà Nguyễn
Khi thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lược Việt Nam, nội bộ triều đình Huế đã sớm bị phân hoá. Trong suốt quá trình Pháp xâm lược Việt Nam, hai phe này mâu thuẫn sâu sắc với nhau, tìm cách loại bỏ nhau. Cuối cùng công cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp kết thúc và phe chủ hoà đã giành được thắng lợi. Từ đó, phe chủ hoà câu kết chặt chẽ và bắt tay với Pháp cùng chia sẻ quyền lợi.

1. Giai đoạn 1858 – 1883 từ khi Pháp bắt đầu xâm lược đến khi Tự Đức mất (17/7/1883)

Từ chiều ngày 31/8/1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha đã kéo tới cửa biển Đà Nẵng. Kế hoạch của địch là đánh nhanh thắng nhanh để chiếm lấy Đà Nẵng làm căn cứ bàn đạp tấn công nội địa, tiêu diệt sinh lực của triều đình Huế tại đây, rồi vượt đèo Hải Vân đánh lên Huế bóp chết kháng chiến của phong kiến triều Nguyễn tại chỗ và buộc phải đầu hàng.

Mờ sáng ngày 1/9/1858, Pháp đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà. Triều đình Huế vội phái quân tới tăng cường cho lực lượng phòng thủ. Nguyễn Tri Phương được cử làm tổng chỉ huy tại mặt trận Quảng Nam để lo việc chống giặc. Nhưng ông không chủ động tiến công giặc mà chỉ án binh bất động, chủ chương bao vây địch ngoài mé biển, nếu địch đánh vào mới chống lại.

Còn về phía Pháp lúc này, trên mặt trận duy nhất sát cạnh kinh thành Huế chỉ có 3000 quân chính quy. Điều này đủ nói lên sự thiếu hụt quân số của thực dân Pháp. Hơn nữa khó khăn của chúng ngày càng tăng lên do không hợp khí hậu nên binh linh địch bị ốm đau và chết khá nhiều.

Trước những khó khăn của giặc Pháp, ta thấy cơ hội phòng thủ và tấn công địch trên mặt trận Đà Nẵng không phải là ít. Nhưng triều đình đã bỏ mất thời cơ thuận lợi để chiến thắng quân thù.

Trong nội bộ triều đình Huế lúc này các ý kiến vẫn còn bàn cãi, chưa ngã ngũ. Phe chủ chiến chủ trương trước sau tấn công địch. Nhưng người đứng đầu Tự Đức lúc này lại do dự, hoang mang, thiếu đường lối rõ ràng nên dẫn tới việc chỉ đạo chiến trường chưa triệt để và mang nặng tư tưởng cầm cự bị động.

Sau năm tháng bị sa lầy trên mặt trận Đà Nẵng, tháng 2/1859 Pháp chuyển hướng tấn công Gia Định. Âm mưu của địch lần này kéo vào Gia Định so với lúc đánh Đà Nẵng có nhiều điểm khác. Chúng muốn cắt đứt đường tiếp tế của triều đình Huế, đánh Sài Gòn xong sẽ theo đường sông Cửu Long ngược lên đánh chiếm luôn Cao Miên.

Trước sức tấn công mạnh mẽ của địch, bọn quan lại triều đình chịu trách nhiệm ở đây đã không có những hành động cứng rắn kịp thời để bóp chết ngay từ đầu ý chí xâm lăng của địch. Quân triều đình chỉ chống đỡ vài trận, rồi bỏ thành chạy dài. Trấn thủ thành Gia Định là Võ Duy Ninh thắt cổ tự vẫn để trốn tránh trách nhiệm, mở đầu cho một chuỗi tự sát của những bầy tôi bất lực dưới một triều đình phong kiến đã suy tàn.

Như vậy, từ thất bại ở Đà Nẵng đến Gia Định ta nhận thấy quan quân nhà Nguyễn đều mang nặng tư tưởng thất bại chủ nghĩa nên sớm đầu hàng địch.

Trong khi thực dân Pháp đang đánh chiếm Gia Định thì triều đình Huế vẫn còn đang nghị luận. Phe chủ chiến và chủ hoà đều có lập trường riêng để bảo vệ chính kiến của mình. Nhưng Tự Đức đã nghiêng về phe chủ hoà. Còn phe chủ chiến vẫn theo đường lối cứng rắn. Do có chỗ dựa vững chắc là quần chúng nhân dân nên phe chủ hoà và Tự Đức không thể loại trừ phe chủ chiến.

Sau khi chiếm được Gia Định, quân Pháp lo sợ vấp phải sức chiến đấu quyết liệt của nghĩa quân nên chúng không dám đóng quân trên bộ mà phải rút xuống tàu giữa sông rộng. Trong khi đó, tướng lĩnh triều đình vẫn ngồi yên mà không hành động. Lúc này, phần lớn quân Pháp đã tiếp viện cho số quân đang bị khốn đốn ở Đà Nẵng nên phải dàn mỏng lực lượng trên một phòng tuyến dài hơn mười cây số. Đây là một thời cơ thuận lợi để tiến công địch nhưng triều đình vẫn hay biết gì.

Nguyễn Tri Phương từ lúc vào làm Tổng đốc quân vụ đại thần phụ trách mặt trận Gia Định (tháng 3/1860) cũng chỉ biết đôn đốc quân dân hết đào hầm lại đắp luỹ để bao vây địch mé ngoài, thực hiện triệt để chiến thuật án binh bất động. Quân triều đình tuyệt nhiên không hề có một lần nào chủ động tiến công địch.

Tai hại hơn nữa, chính tình trạng trên dưới ý kiến không thống nhất, nội bộ giai cấp phong kiến phân hoá phức tạp nên triều đình đã bỏ lỡ nhiều dịp nghị hào với Pháp với những điều kiện nghị hoà có lợi cho ta.

Lần thứ nhất khi vừa đánh Đà Nẵng xong (từ 1859 - 1860), Pháp muốn nghị hoà. Các điều khoản chúng đưa ra như hai nước Pháp – Nam giao hảo lâu dài, khoan sá những người cộng tác với Pháp, không truy nã người theo đạo và thả giáo sĩ, tự do thông thương, tự do giảng đạo và đặc biệt là điều khoản cuối cùng ký hoà ước xong là Pháp lập tức rút chiến thuyền khỏi Gia Định, xét ra không phải là quá đáng.

Trong tình hình đo, thái độ đúng đắn của triều đình là phải tranh thủ thời cơ hoà hoãn để xây dựng kháng chiến về sau. Nhưng triều đình không nhận ra cơ hội hoà hoãn nên đã bỏ lỡ. Kết quả là cuộc điều đình bị thất bại. Chính thái độ đánh không ra đánh, hoà không ra hoà này của triều đình Huế kéo dài đã có lợi cho Pháp.

Lần thứ hai, sau khi kết thúc chiến sự ở Trung Quốc, điều ước Bắc Kinh được ký kết (7/2/1861) đã giải quyết những khó khăn, lúng túng của Pháp, chúng dồn toàn bộ lực lượng mở rộng cuộc chiến tranh, xâm lược Việt Nam. Sau khi đã chiếm được Gia Định, Pháp âm mưu chiếm lấy Nam Kỳ. Quân Pháp với vũ khí và trang bị hiện đại nên hành động nhanh. Ngày 23/3/1862, chúng chiếm xong ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ: Định Tường, Biên Hoà, Vĩnh Long.

Dựa trên thắng lợi quân sự, Pháp buộc triều đình ký hiệp ước đầu hàng. Để cứu vãn quyền lợi giai cấp triều đình Huế vội vã ký hàng ước ngày 5/6/1862 nhượng đứt ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ và đảo Côn Lôn cho giặc Pháp.

Về phía địch mặc dù đánh thắng và chiếm đất nhưng chúng nhận thấy sớm nghị hoà ngày nào hay ngày ấy. Thực tế trên chiến trường Nam Kỳ, Pháp không đủ binh lực để chiếm rộng ra và bình định các nơi đã chiếm được. Dư luận nước Pháp lúc đó đối với việc xâm lược Việt Nam vẫn chưa nhất trí.

Cuộc nghị hoà đã được tiến hành rất nhanh chóng. Hoà ước được ký kết tại Sài Gòn giữa Bôna – đại diện cho chính phủ Pháp với hai phái viên triều đình là Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp. Hai người này là lực lượng mang tư tưởng chủ hoà nên đã nhanh chóng đáp ứng những yêu cầu của Pháp. Với điều ước Nhâm Tuất (5/6/1862), triều đình Huế không những đã mở lối thoát khỏi tình trạng bế tắc cho phép mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho Pháp giữ vững những vùng đất đã chiếm ở miền Đông Nam Kỳ, mở rộng xâm lược miền Tây Nam Kỳ. Mặt khác, với điều ước Nhâm Tuất triều đình Huế đã thoả hiệp và bắt tay với thực dân Pháp đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân Bắc Kỳ và Trung Kỳ, tạo thêm khó khăn nặng nề cho phong trào kháng chiến của nhân dân.

Trong lúc triều đình Huế hoang mang dao động, ký hàng ước thì phong trào đấu tranh của quần chúng vẫn diễn ra sôi nổi. Trong năm 1862, phong trào chống Pháp dâng cao ở hầu hết các nơi, nhất là ở các tỉnh Định Tường và Gia Định. Điển hình có các cuộc nổi dậy của Trương Định, Đỗ Trinh Thoại, Nguyễn Thông, Phạm Văn Đạt, Hồ Huân Nghiệp, Võ Duy Dương…, đặc biệt là cuộc nổi dậy của Trương Định dưới ngọn cờ Bình Tây đại nguyên soái. Nghĩa quân đã phối hợp với Nguyễn Tri Phương tại mặt trận Gia Định gây cho địch nhiều khó khăn và tổn thất.

Qua sự phân tích trên, ta thấy cơ hội cho nhân dân ta chống Pháp là có. Chính triều đình Huế đã bỏ lỡ cơ hội đó. Họ đã rũ bỏ trách nhiệm với dân tộc.

Về phía phe chủ chiến vẫn một mặt tích cực đấu tranh trong triều đình. Mặt khác ra sức ủng hộ và hậu thuẫn cho phong trào đấu tranh của nhân dân. Còn Tự Đức vốn mang nặng tư tưởng chủ hoà nên đã làm ngơ trước mọi cơ hội kháng chiến của nhân dân ta.

Sau khi hoà ước được kí kết, triều đình Huế lại mắc thêm sai lầm nữa. Họ không chủ động tấn công nhằm ngăn chặn bước tiến của quân Pháp mà lại mải mê thoả hiệp để chuộc đất. Tháng 8/1862, triều đình Huế cử phái bộ Phan Thanh Giản cầm đầu sang Pháp với nhiệm vụ xin sửa lại hoà ước 1862 và chuộc lại ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Xu hướng chung của đình thần là nhượng bộ nên chỉ thị cho phái bộ rất mơ hồ: “… phần lớn nên theo sở nguyện của họ. Ý muốn của Phan Thanh Giản trong chuyến này là “hoà nghị đã thành, có thể ung dung mà đưa nước nhà đến cõi phú cường”.

Theo đó, mục tiêu của Phan Thanh Giản là nhượng bộ để nước không mất rồi tranh thủ thời cơ mà chấn chỉnh nước nhà, tăng cường tiềm lực quốc gia để đấu tranh với Pháp. Phải thừa nhận rằng đây là một ý kiến không phải không có lý nhưng âm mưu của giặc Pháp là lớn và sâu, chúng đâu để cho triều đình thực hiện được ý nguyện canh tân đất nước, làm cho dân giàu nước mạnh để rồi chống lại chúng.

Kết quả chuyến đi của Phan Thanh Giản là nhà Nguyễn không những không chuộc được đất mà còn bị Pháp gây sức ép với những điều khoản nặng nề hơn năm 1862.

Chiếm xong 3 tỉnh miền Đông, Pháp mở rộng đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Sáng ngày 20/6/1867, Pháp cho quân dàn trận trước thành Vĩnh Long đưa tối hậu thư đòi Phan Thanh Giản nộp thành. Kết quả là Phan Thanh Giản nộp thành Vĩnh Long cho Pháp và còn ra lệnh cho các quan cầm đồn 2 tỉnh còn lại ở miền Tây cũng phải nộp thành theo lệnh của Pháp ngày 24/6/1867 mà không có sự chống cự nào.

Lấy xong 3 tỉnh miền Tây, thực dân Pháp cho người ra Huế báo sự việc đã rồi. Triều đình không hề phản ứng, mà chỉ xin đổi 3 tỉnh miền Tây mới mất để lấy lại tỉnh Biên Hoà nhưng không được Pháp chấp nhận. Còn Phan Thanh Giản thì uống thuốc độc tự vẫn vì lo sợ trách nhiệm với triều đình.

Nhưng tại sao Phan Thanh Giản lại nộp thành nhanh như vậy? Sự thật thì khi giao nộp thành cho Pháp ông không chỉ hành động theo ý mình mà đã làm đúng ý Viện Cơ mật của triều đình. Như vậy, nguyên nhân để mất thành của Phan Thanh Giản là một phần bị chi phối bởi tư tưởng chủ hoà của triều đình, không có một đường lối minh bạch cho tình thế nước ta lúc đó.

Trong thời kỳ này, phe chủ hoà với sự hậu thuẫn của Tự Đức vẫn đang chiếm ưu thế. Về phía phe chủ chiến dưới sự lãnh đạo của Tôn Thất Thuyết đang bí mật bố trí trận địa kinh thành Huế để chuẩn bị ngày đối phó với giặc Pháp.

Sau khi để mất ba tỉnh miền Tây, phong trào kháng chiến trong nhân dân nổ ra mạnh mẽ. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh do Trương Quyền, Phan Tam, Phan Ngũ, Nguyễn Trung Trực.v.v. lãnh đạo. Các phong trào này kết thành cao trào chống Pháp, nhưng tất cả các cuộc kháng chiến đều bị thất bại do chính sách đàn áp đẫm máu của triều đình Huế. Điều này chứng tỏ lúc này triều đình hoàn toàn đối lập với nhân dân không đoàn kết thống nhất cùng nhân dân chống giặc ngoại xâm.

Chiếm xong Nam Kỳ, thực dân Pháp thực hiện âm mưu chiếm cả Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Ngày 5/11/1873, đội tàu chiến của Gácniê ra tới Hà Nội. Trần Đình Túc được cử ra Bắc bố cáo cấm nhân dân buôn bán giao thiệp với người Pháp, vạch rõ trách nhiệm của Gácniê ra Bắc chỉ là xử lý và đuổi tên Đuy puy, việc xong là phải rút lui.

Ngày 20/11/1873, Pháp nổ súng đánh thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương trực tiếp chỉ huy cuộc chiến đấu và hy sinh anh dũng. Hà Nội bị Pháp chiếm. Do tình hình cấp bách, triều đình cử quân ra Bắc nhưng xu hướng chủ yếu vẫn là điều đình thương thuyết.

Mặc dù thành Hà Nội bị giặc chiếm, quan quân triều đình tan rã nhanh chóng, nhân dân Hà Nội vẫn tiếp tục duy trì cuộc chiến đấu. Tiêu biểu là cuộc phối hợp chiến đấu của quân triều đình do Hoàng Tá Viêm lãnh đạo với quân Cờ đen thiện chiến của Lưu Phúc Vĩnh đã làm nên chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất ngày 21/12/1873. Kết quả là Gácniê tử trận, thành Hà Nội được trả lại triều đình Huế.

Trong khi chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất đang làm nức lòng nhân dân ta thì triều đình Huế lại bỏ lỡ cơ hội đánh Pháp, không dám hiệu triệu quan quân thừa thắng xông lên. Triều đình ra lệnh cho Hoàng Tá Viêm lui binh về Sơn Tây vì sợ quân Pháp trả thù. Kết quả là một điều ước được ký ngày 15/3/1874 tại Sài Gòn với những điều khoản rất có hại cho ta. Triều đình Huế chính thức thừa nhận chính quyền của Pháp ở cả 6 tỉnh Nam Kỳ, nền ngoại giao Việt Nam lệ thuộc Pháp. Phần đất còn lại bị Pháp chi phối cả nội trị và ngoại giao.

Không thực hiện được đầy đủ âm mưu xâm lược Bắc Kỳ lần thứ nhất, thực dân Pháp ráo riết chuẩn bị tiến công ra Hà Nội lần thứ hai vào năm 1882. Lấy cớ triều đình Pháp vi phạm hiệp ước 1874, chính phủ Pháp tăng cường quân đội cho Bắc kỳ. Chủ chương của thực dân Pháp lúc này là sự suy yếu của triều đình Huế để dùng lực lượng quân sự làm áp lực buộc phải công nhận nền bảo hộ Pháp trong cả nước.

Chủ trương của triều đình Huế lần này cũng không khác gì lần trước. Tổng đốc Hà Nội Hoàng Diệu một mặt tích cực tổ chức phòng thủ, mặt khác cấp báo về Huế, xin tăng viện. Kết quả là triều đình không tán thành, cho phòng thủ như vậy là không phải lúc, địch sẽ lấy cớ gây sự thêm.

Sau khi chiếm thành Hà Nội lần thứ 2, thừa cơ triều đình Huế tự hãm mình trong thế bị động, thương thuyết, quân Pháp mở rộng đánh chiếm nhiều tỉnh vùng đồng bằng. Nhưng ngay từ ngày đầu đánh chiếm, quân Pháp gặp phải sức kháng cự mạnh mẽ của quân dân Hà Nội và khắp nơi ở Bắc Kỳ. Tiêu biểu là trận Cầu Giấy lần thứ 2 (19/5/1883). Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ 2 làm cho quân dân cả nước vô cùng phấn khởi, sẵn sàng xông lên tiêu diệt địch. Nghĩa quân các nơi quy tụ ngày càng đông dưới ngọn cờ chống Pháp của các quan lại chủ chiến. Trong khi đó triều đình Huế vẫn tiếp tục hãm mình trong thế bị động thương thuyết, hạ lệnh triệt hết quân để tỏ rõ tín nghĩa với quân Pháp và với hoà ước Giáp Tuất (1874).

Về phía Pháp, lợi dụng thời cơ thuận lợi nên đã đẩy mạnh ý đồ xâm chiếm toàn bộ nước ta. Giữa tháng 7/1883 Pháp tiến hành họp bàn kế hoạch đánh lên Huế. Muốn đánh Huế phải lấy pháo đài Thuận An.

Thái độ và hành động của nhà Nguyễn đã thể hiện rõ sự suy yếu, mất lòng dân nhưng lại luôn ý thức đến quyền lợi của giai cấp mình. Do suy yếu mà sợ giặc mà mất lòng dân nên sợ cả dân. Có điều là sợ Pháp thì Nhà nước Nguyễn bắt tay hoà hoãn Pháp đi đến đầu hàng Pháp, phản bội quyền lợi dân tộc. Còn sợ dân thì nhà Nguyễn chống lại dân, từ bỏ vai trò lãnh đạo, bỏ rơi thậm chí ngăn cản, phá hoại phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân.

Giữa lúc thực dân Pháp chuẩn bị âm mưu đánh Huế thì ngày 17/7/1883 vua Tự Đức băng hà sau 35 năm trị vì. Triều đình Huế đang đứng trước một thách thức mới: nội bộ rơi vào tình trạng lục đục, chia rẽ trong vấn đề tôn vương do Tự Đức không có con. Tình hình này đã tạo thêm cơ hội thuận lợi cho Pháp.

Vậy, trong quá trình cầm quyền Tự Đức là người đứng đầu chèo lái con thuyền dân tộc chống chọi với cơn bão táp xâm lược của thực dân Pháp. Nhưng tàu nhỏ, sóng lớn nên con thuyền đó đã bị chìm, nhưng nhân dân thì không chìm giống nó mà vẫn hiên ngang bất khuất trước thách thức kẻ thù. Trong suốt thời gian cầm quyền, Tự Đức là người đứng đầu phe chủ hoà trong nội bộ Huế nên đã hoàn toàn lấn áp phái chủ chiến. Hành động của ông không ngoài gì khác là luôn tự hãm mình trong thế bị động thương thuyết với Pháp để chuộc lại đất sau khi đã cắt nhượng cho Pháp trong mỗi lần thua cũng như thắng. Kết quả là đã đẩy nước ta ngày càng lệ thuộc vào Pháp.

2. Giai đoạn 1883 – 1888 từ sau khi Dục Đúc lên ngôi đến khi lãnh tụ phong trào Cần Vương bị bắt

Chớp thời cơ thuận lợi, triều đình Huế đang rối ren khi vua Tự Đức qua đời, Pháp đánh thẳng vào Huế buộc triều đình đầu hàng. Sáng ngày 18/8/1883, hạm đội Pháp do đô đốc Courbet (Cuốc bê) chỉ huy tiến vào cửa biển Thuận An đưa tối hậu thư buộc triều đình dao tất cả các pháo đài phòng thủ bờ biển cho chúng. Quân ta kháng cự quyết liệt. Cuộc đấu pháo kéo dài 3 ngày liền. Tối chiều ngày 20/8, quân Pháp mới đổ bộ lên được Thuận An. Được tin Thuận An mất vào tay Pháp, triều đình vội xin đình chiến. Phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành đến tìm giám mục Caspard (Cố Lộc) làm trung gian để điều đình. Harmand (Hác măng) đòi các đồn phải giải giới từ cửa Thuận An lên Huế. Sau đó Harmand đi ngay Huế buộc triều đình ký vào bảng điều ước đã được thảo sẵn gồm 27 khoản rất nặng. ở ngôi vua lúc này là Hiệp Hoà.

Công việc của Viện Cơ mật hầu như chỉ do hai đại thần Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết đảm nhận (phái chủ chiến), phụ chính Trần Tiễn Thành (phái chủ hoà) vì hai chân đau buốt khó đi lại nên xin miễn không phải vào chầu. Mọi việc của Viện Cơ mật đều do hai phụ chính (phe chủ chiến) quyết định. Hai ông này chủ trương lấy tấn công làm phòng thủ ở cửa Thuận An

Khi Thuận An thất thủ, vua liền ngả hoàn toàn theo phái chủ hoà vì lo sợ giặc. Lúc này trong các quan của Viện Cơ mật và Bộ binh, người chiếm ưu thế lại chính là Trần Tiễn Thành và bên cạnh ông ta còn có một người mang nặng tư tưởng chủ hoà khác ấy là Thượng thư bộ lại Nguyễn Trọng Hợp, người mới được Hiệp Hoà bổ sung vào Viện Cơ mật.

Hiệp ước Harmand được kí kết ngày 25/8/1883. Theo điều ước này, Nam triều chính thức công nhận chịu quyền bảo hộ của nước Pháp, công việc ngoại giao do công sứ Pháp chủ trương, nước Pháp đặt một chức công sứ ở Huế, một chức Khâm sứ. Vua và các đại quan cai trị dân như cũ. Khoản 5 của hiệp ước định rằng: Nam triều phải cho thi hành việc đình chỉ mọi hoạt động quân sự, gọi các quan ở Bắc Kỳ về làm việc như cũ. Thuế thương chính nước Pháp thu, nước Pháp còn giữ việc ngoại giao của nước Nam.

Xứ bộ Nam triều đề nghị nhượng cả xứ Bắc kỳ, từ tỉnh Ninh Bình ra bắc cho nước Pháp thuộc địa để lại cho nước Nam từ tỉnh Thanh Hoá cho đến hết tỉnh Bình Thuận tự chủ như cũ. Harmand không nghe buộc Nam Triều phải chấp nhận ký hoà ước.

Điều ước Harmand được ký kết chứng tỏ triều đình không còn sức kháng cự. Hiệp ước là một nỗi đau xót nhục nhã nhất trong các hoà ước thừa nhận sự bảo hộ của Pháp. Sau khi hiệp ước được ký kết triều đình cử Nguyễn Trọng Hợp khâm sai đại thần ra Bắc Kỳ nhận lại các tỉnh, thành, triệt bãi các quan thứ, hiểu dụ nhân dân để thi hành thoả thuận với Pháp.

Trong khi phe chủ hoà sớm kí hoà ước bắt tay với Pháp thì phe chủ chiến vẫn ra sức hoạt động, chuẩn bị lực lượng để chờ ngày sống mái với kẻ thù. Dựa vào quyền lực của mình, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết kiên quyết phế bỏ và trừ khử những ông vua và những thế lực thân Pháp. Chỉ trong vòng 6 tháng sau khi Tự Đức mất, liên tiếp có 3 ông vua bị phế, lập, đó là các vua Dục Đức, Hiệp Hoà, Kiến Phúc. Những ông vua này đều sớm có tư tưởng thân Pháp làm cản trở phe chủ chiến và phong trào đấu tranh của nhân dân. Đồng thời đệ nhất phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành, người đúng đầu phe chủ hoà cũng bị giết.

Lợi dụng sự sơ hở của hiệp ước Harmand (25/8/1883) không có khoản nào nói tới vấn đề quân sự của triều đình, Tôn Thất Thuyết đã cho tuyển mộ binh lính, thành lập và củng cố các sơn phòng. Tại kinh đô, Tôn Thấy Thuyết cho tổ chức và đổi mới việc huấn luyện hai đội quân Phấn Nghĩa và Đoàn Kết. Đội quân này do Đề đốc kinh thành Trần Xuân Soạn chỉ huy.

Như vậy, Tôn Thất Thuyết sớm có tinh thần chuẩn bị để sẵn sàng đối phó với thực dân Pháp. Hành động loại bỏ phái chủ hoà của phái chủ chiến đã cho thấy trong nội các Huế chỉ còn phái chủ chiến cầm quyền và đối lập với Pháp.

Không chỉ dừng lại ở đó, phái chủ chiến còn có những hành động khiến người Pháp tức giận. Ngày 31/7/1884, Kiến Phúc bị phế, Ưng Lịch lên ngôi lấy hiệu là Hàm Nghi mà không thông qua người Pháp. Người Pháp vô cùng tức giận nhưng không làm được gì. Hàm Nghi vẫn lên ngôi vua theo thể thức nước Nam. Tuy vậy, thực dân Pháp bắt đầu muốn loại bỏ phái chủ chiến nhằm đưa phái chủ hoà lên thay.

Thực dân Pháp đang trên đà thắng thế nên ép triều đình Huế ký thêm một hoà ước nhằm có lợi cho Pháp. Hiệp ước Patơnốt được ký kết ngày 6/6/1884 gồm 19 khoản nhưng không nhẹ hơn hoà ước Harmand. Hoà ước này mở rộng quyền đóng quân của Pháp. Để bảo trợ Đại Nam Hoàng đế có trách nhiệm giữ lãnh thổ toàn hoả và dẹp hết các giặc, nước Pháp sẽ được đóng quân bất cứ chỗ nào nếu thấy xét là cần thiết.

Hiệp ước Patơnốt đã đặt cở sở lâu dài và chủ yếu của Pháp ở Việt Nam. Đến đây giai cấp phong kiến Việt Nam đã hoàn toàn đầu hàng thực dân Pháp. Nhà nước phong kiến Việt Nam với tư cách là một nước độc lập có chủ quyền đã hoàn toàn sụp đổ. Nước Việt Nam đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp.

Mặc dù triều Huế đã đầu hàng nhưng phái chủ chiến và nhân dân ta vẫn quyết tâm chống giặc đên cùng. Bên cạnh công tác tổ chức chuẩn bị chiến đấu lâu dài với kẻ thù, Tôn Thất Thuyết đã cho điều quân từ các nơi về đóng chặt kinh thành Huế, kể cả trong nội thành. Ông cho đặt 45 khẩu thần công ở trên mặt thành và ở đài Nam hướng về phía Toà sứ Pháp và đồn Mang Cá. Thấy thế thực dân Pháp lo ngại yêu cầu triều Huế phải loại bỏ ngay các khẩu pháo này.

Mâu thuẫn giữa phái chủ chiến và thực dân Pháp ngày càng sâu sắc. Lực lượng Pháp coi Tôn Thất Thuyết là người cần loại bỏ để tránh hậu hoạ về sau. Quân Pháp muốn buộc Hội đồng phụ chính do Tôn Thất Thuyết đứng đầu phải từ chức để phái chủ chiến mất hỗ dựa trong triều đình.

Được lệnh của Pari, Đờcuốcxy kéo theo lực lượng từ Hải Phòng vào thẳng Huế. Ý đồ của Đờcuốcxy là dùng áp lực quân sự loại trừ phái chủ chiến, giải tán quân đội và bắt cóc người cầm đầu phái chủ chiến Tôn Thất Thuyết. Đến Huế, Đờcuốcxy nhiều lần mời gặp Tôn Thất Thuyết nhưng đều bị từ chối. Trước thái độ bức bách của thực dân Pháp, Tôn Thất Thuyết chủ động tiến công Pháp. Ông ra lệnh gấp rút đào hào đắp lũy ngay trong thành Huế, chuyển gấp tài sản từ các kho ra Quảng Trị. Ông trực tiếp cùng Tôn Thất Lệ và Hồ Văn Hiển chỉ huy hai đạo quân Phấn Nghĩa, Đoàn Kiệt bố trí phòng thủ Hoàng thành.

Nhằm giành thế chủ động, ngày 5/7/1885 Tôn Thất Thuyết quyết định tiến hành cuộc phản công quân Pháp ở Huế. Do bị bất ngờ, quân Pháp hoảng hốt bỏ chạy và co cụm trong doanh trại. Qua những giờ phút kinh hoàng quân Pháp ở đồn Mang Cá dưới sự chỉ huy của Pécnô bắt đầu tổ chức phản công quân ta. Cuối cùng Pháp chiếm được thành ngay ngày hôm đó. Lực lượng Tôn Thất Thuyết đã kịp thời rút ra ngoại thành. Trưa ngày 6/7/1885, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi tới Quảng Trị. Sau sự kiện này trong nội bộ phái chủ chiến đã diễn ra cuộc phân hoá mới. Cuộc phân hoá cuối cùng, để rồi chỉ còn lại những phần tử trung kiên nhất cùng vua Hàm Nghi tiếp tục di chuyển ra Bắc tổ chức phong trào Cần Vương.

Ngày 10/7/1885, vua đến Tân Sở. Đến ngày 17/7/1885 lấy danh nghĩa vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết phát dụ Cần Vương lần thứ nhất nhằm kêu gọi các văn thân, sĩ phu đứng lên cùng phe chủ chiến đánh đuổi giặc Pháp. Chiếu Cần Vương ban ra được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng.

ở Tân Sở một thời gian khoảng 4 - 5 tháng nghĩa quân quyết định chuyển căn cứ ra Quảng Bình rồi chủ trương tiến lên Thanh Hoá. Bởi căn cứ Tân Sở nhỏ hẹp dân nghèo lại bị cô lập nên khó có đường rút lui khi giặc Pháp tấn công. Thanh Hoá đất rộng người đông lại dễ dàng thông sang Trung Quốc khi có tình hình bất trắc xảy ra. Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết ra đến Hướng Hoá thì quân Pháp đã đổ bộ lên Đồng Hới. Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết lai phải lộn về Tân Sở lần thứ 2. Năm 1888, do sự phản bội của Trương Quang Ngọc, vua Hàm Nghi bị thực dân Pháp bắt. Đến đây phái chủ chiến trong triều đình coi như bị tan vỡ. Chỗ dựa của những người cầm đầu phái Cần Vương đã không còn những trọng quan trong triều đình nữa mà là quảng đại quần chúng yêu nước.

Ngày 20/9/1885 tại sơn phòng ấu Sơn nhân danh vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết xuất chiếu Cần Vương lần thứ 2. Chiếu Cần Vương đã phản ánh tương đối đầy đủ và sâu sắc mâu thuẫn dân tộc. Nó có tác dụng thúc đẩy phong trào yêu nước của nhân dân, kịp thời vạch ra con đường chính nghĩa chống giặc đến cùng, đồng thời cũng nêu bật được ý thức tự chủ, kịp thời cô lập chính quyền bù nhìn mà Pháp thành lập ra ở Huế và ở các tỉnh.

Hưởng ứng chiếu Cần Vương, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra suốt từ Bình Định ra Bắc. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy, Ba Đình, Hũng Lĩnh và nhất cuộc khởi nghĩa Hương Khê của Phan Đình Phùng… Mặc dù thất bại nhưng phong trào đã nêu cao tinh thần yêu nước chống ngoại xâm của dân tộc. Nó chứng tỏ phe chủ chiến không hề bị cô lập khi đối đầu với thực dân Pháp.

Cuộc phản công của nhóm chủ chiến vào năm 1885 là sự vùng dậy cuối cùng của vương triều Nguyễn. Biến cố thất thủ kinh thành Huế (5/7/1885) đã mở đầu cho giai đoạn mới của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc: phong trào Cần Vương, đồng thời ưu thế lúc này đang thuộc về phái chủ hòa. Sau khi loại trừ được phái chủ chiến ra khỏi triều đình, thực dân Pháp dựng lên ông vua bù nhìn Đồng Khánh.

Về phía Nguyễn Văn Tường ở lại triều đình sau vụ biến kinh thành Huế với một trách nhiệm nặng nề. Ông kiên trì thương thuyết nhưng do lực lượng yếu và phái chủ hòa chiếm ưu thế đã bắt tay chặt chẽ với Pháp nên Nguyễn Văn Tường đành bất lực, cuối cùng ông đã thất bại.
 
Sửa lần cuối:

Bài Trước

Quá trình hình thành hai phe chủ chiến - chủ hòa trong nội bộ triều đình Huế

Bài Tiếp

Nguyễn Nhạc

linh lí lắc

Thành Viên
14/11/16
26
9
3
27
Hà Nội
Nếu nội bộ nhà Nguyễn đoàn kết Quyết tâm chống giặc chắc là nước ta không bị rơi vào tay Thực dân Pháp nhỉ. Nước ta rơi vào tay Pháp thuộc về Trách nhiệm của nhà NGuyễn.