Chuyên đề: Chị em Thúy Kiều (trích Truyện Kiều)

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Diễn đàn kiến thức xin gửi đến các em học sinh lớp 9 đang ôn thi chuẩn bị cho kì thi tuyển sinh vào lớp 10 chuyên đề -Tổng hợp kiến thức về
Đoạn trích: Chị em Thúy Kiều (trích Truyện Kiều) cùng các dạng câu hỏi liên quan đến bài thơ
cho các em tham khảo hi vọng với những tổng hợp của Diễn đàn các em có nguồn tài liệu học tập tốt và có một kì thi thành công


Chị em Thúy Kiều

(Trích Truyện Kiều)

Đầu lòng hai ả tố nga,

Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.

Mai cốt cách tuyết tinh thần,

Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.

Vân xem trang trọng khác vời,

Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.

Hoa cười ngọc thốt đoan trang,

Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.

Kiều càng sắc sảo mặn mà,

So bề tài sắc lại là phần hơn:

Làn thu thủy nét xuân sơn,

Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh.

Một hai nghiêng nước nghiêng thành,

Sắc đành đòi một tài đành họa hai.

Thông minh vốn sẵn tính trời,

Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.

Cung thương lầu bậc ngũ âm,

Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một chương.

Khúc nhà tay lựa nên chương,

Một phiên bạc mệnh lại càng não nhân.

Phong lưu rất mực hồng quần,

Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.

Êm đềm trướng rủ màn che,

Tường đông ong bướm đi về mặc ai.

I. Đôi nét về tác phẩm Chị em Thúy Kiều

1. Vị trí đoạn trích

Đoạn trích nằm ở phần mở đầu của phần 1: Gặp gỡ và đính ước

2. Bố cục

- Đoạn 1 (4 câu đầu): giới thiệu khái quát hai chị em Thúy Kiều

- Đoạn 2 (4 câu tiếp): gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân

- Đoạn 3 (12 câu tiếp): gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều

- Đoạn 4 (4 câu cuối): Nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em

3. Giá trị nội dung

Đoạn trích đã khắc họa rõ nét chân dung tuyệt mĩ của chị em Thúy Kiều, ca ngợi vẻ đẹp, tài năng và dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh của Thúy Kiều, đây là biểu hiện cho cảm hứng nhân văn của Nguyễn Du

4. Giá trị nghệ thuật

Nghệ thuật nổi bật của đoạn trích là nghệ thuật khắc họa nhân vật lí tưởng bằng bút pháp ước lệ tượng trưng – lấy vẻ đẹp của thiên nhiên làm nổi bật vẻ đẹp của con người, không miêu tả chi tiết cụ thể mà tả để gợi, sử dụng biện pháp đòn bẩy làm nổi bật vẻ đẹp của Thúy Kiều

II. Dàn ý phân tích Chị em Thúy Kiều

I. Mở bài


- Giới thiệu những nét khái quát cơ bản về tác giả Nguyễn Du: một đại thi hào lớn không chỉ của dân tộc Việt Nam mà còn của toàn thế giới, đại thi hào đã để lại những tác phẩm văn chương nghệ thuật độc đáo cho đời

- Giới thiệu về Truyện Kiều và đoạn trích Chị em Thúy Kiều: Truyện Kiều có thể nói là một tác phẩm xuất sắc của Nguyễn Du, đoạn trích Chị em Thúy Kiều là một đoạn trích tiêu biểu khắc họa rõ nét vẻ đẹp tài sắc vẹn toàn của Thúy Vân, Thúy Kiều

II. Thân bài

1. Bốn câu thơ đầu: giới thiệu khái quát hai chị em Thúy Kiều

- Chỉ với hai câu thơ lục bát ngắn ngủi, tác giả đã giới thiệu được hai nhân vật và vị trí của hai người một cách đầy tự nhiên: “Đầu lòng hai ả tố nga- Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân”

- “Mai cốt cách tuyết tinh thần”: bút pháp ước lệ gợi vẻ thanh cao duyên dáng, trong trắng của hai chị em thiếu nữ, đó là cốt cách như mai, tinh thần như tuyết

- “Mối người một vẻ mười phân vẹn mười”: Mỗi người mang nét riêng nhưng cả hai đều tài đều sắc

2. Bốn câu tiếp theo: gợi tả vẻ đẹp Thúy Vân

- Câu thơ mở đầu khái quát vẻ đẹp của Thúy Vân, “trang trọng” gợi vẻ cao sang, quý phái

- Vẻ đẹp của Thúy Vân được so sánh với những thứ đẹp nhất trên đời: trăng, hoa, mây, tuyết, ngọc

- Chân dung Thúy Vân được miêu tả toàn vẹn từ mái tóc đến nụ cười, giọng nói, phong thái ứng xử nghiêm trang: khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, lông mày sắc nét như ngài, miệng tươi như hoa, đoạn trang như ngọc,...

- Chân dung dự đoán số phận: “mây thua”, “tuyết nhường” ⇒ số phận êm đềm

3. 12 câu tiếp: Gợi tả vẻ đẹp tài sắc vẹn toàn của Thúy Kiều

- “Kiều càng sắc sảo mặn mà”: khái quát đặc điểm của nhân vật

- Tác giả sử dụng những hình ảnh ước lệ “thu thủy”, “xuân sơn”: gợi đôi mắt đẹp trong sáng, long lanh, linh hoạt như nước mùa thu, lông mày thanh tú như nét núi mùa xuân ⇒ phẩm chất tinh anh của tâm hồn, trí tuệ

- “Hoa ghen... kém xanh”: Vẻ đẹp khiến thiên nhiên nổi giận ⇒ dự báo cuộc đời lắm truân chuyên

- Không chỉ tả nhan sắc, Nguyễn Du còn nhấn mạnh vào sự tài năng của Thúy Kiều “Sắc đành đòi một tài đành họa hai”: Kiều thông minh và đa tài

+ Tài năng của đạt đến mức lí tưởng theo quan niệm thẩm mĩ phong kiến: hội tụ đủ cầm kì thi họa “pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm”

+ “Cung thương làu bậc...một trương”: Tác giả nhấn mạnh tài đàn của Kiều

+ “Một thiên bạc mệnh lại càng não nhân”: Kiều còn giỏi sáng tác, khúc bạc mệnh của Kiều phải chăng là tiếng lòng của một trái tim đa sầu đa cảm

⇒ Thúy Kiều là một nhân vật hiện lên với sự toàn tài

4. 4 câu cuối: Nhận xét chung về cuộc sống của hai chị em

- “Phong lưu rất mực hồng quần”: Gợi hoàn cảnh sống của hai chị em thúy Kiều, họ sống trong phong lưu của mọt gia đình gia giáo

- Hai chị em luôn sống theo khuôn phép, đức hạnh, theo đúng khuôn khổ của lễ giáo phong kiến. Tuy cả hai đều “đến tuần cập kê” nhưng vẫn “êm đềm trướng rủ màn che- tường đông ong bướm đi về mặc ai”

III. Kết bài

- Khái quát về giá trị nghệ thuật làm nên thành công của đoạn trích: ước lệ tượng trưng, bút pháp gợi tả...

- Liên hệ trình bày suy nghĩ bản thân về vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều
 

Bài Trước

Chuyên đề: Bài thơ về tiểu đội xe không kính

Bài Tiếp

Chuyên đề ôn thi: Cảnh ngày xuân (trích Truyện kiều)

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Hãy chứng tỏ rằng trong đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”, Nguyễn Du đã chứng tỏ tài năng tuyệt vời khi ông thực hiện thành công việc cá tính hoá nhân vật.

Bài làm:


Nguyễn Du là một thiên tài văn học, một nhà nhân đạo chủ nghiã lớn. Với vốn kiến thức sâu rộng về văn hoá dân tộc và cuộc đời từng trải, đi nhiều, tiếp xúc nhiều, ông đã có một niềm cảm thông sâu sắc với những đau khổ cuả nhân dân. "Truyện Kiều"- một tác phẩm truyện thơ Nôm được xem là kiệt tác trong sự nghiệp văn chương cuả ông. Đoạn trích "Chị em Thúy Kiều" được trích trong phần đầu cuả tác phẩm thể hiện vẻ đẹp và tài năng cuả chị em Thuý Kiều cùng cuộc sống êm ấm cuả họ. Qua đó còn cho thấy Nguyễn Du là bậc thầy trong nghệ thuật tả người.
Mở đầu đoạn trích, tác giả tập trung vào giới thiệu vẻ đẹp chung của chị em Thúy Kiều."Đàu lòng hai ả tố nga" là có ý noí hai người con gái đầu lòng cuả gia đình họ Vương là hai người con gái rất đẹp, vẻ đẹp ấy như tiên giáng trần, tuyệt vời. Cô chị là Thúy Kiều, cô em là Thuý vân. Đây như một sự nhận xét khaí quát và nêu sơ luợc về vai vế cuả hai chị em: đẹp từ hình dáng "mai cốt cách"đến tâm hồn "tuyết tinh thần",đều thanh cao, duyên dáng chẳng kém gì nhau tuy mỗi người mỗi vẻ.
Để làm rõ vẻ đẹp cuả hai chị em, Nguyễn Du đi sâu vào miêu tả hình ảnh của họ.Trước tiên là Thuý Vân. Đây là một cô có vẻ đẹp trang trọng và cao quý:
Vân xem trang trọng khác vời
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười ngọc thốt đoan trang
Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da
Với khuôn mặt tròn triạ, đần đặn như ánh trăng rằm, với đôi lông mày đậm diễn tả đôi mắt đẹp , gương mặt Thuý Vân hiện lên trong lòng chúng ta một vẻ đẹp phúc hậu, xinh xắn. Miệng cười tươi như hoa, lời noí thốt ra nghiêm trang đứng đắn. Mái tóc mềm mại,bồng bềnh cùng làn da trắng như tuyết khiến "mây"phải "thua", " tuyết" phải "nhường". Hai từ "thua","nhường" cũng đã phần nào cho thấy được số phận êm đềm, suôn sẻ như dòng nước chảy mùa thu cuả cuộc đời Vân- cuộc đời bình yên, hạnh phúc
Việc sử dụng trình tự miêu tả Vân và Kiều, Vân trước Kiều sau chính là dụng ý cho nghệ thuật đòn bẩy của Nguyễn Du. Cách đảo trật tự miêu tả này đã làm nổi bật vẻ đẹp của Thuý Kiều trên cái nền đã có sẵn của Vân. Thuý Kiều mang một vẻ đẹp sắc xảo, mặn mà. Cũng với ước lệ tượng trưng, tác giả đã khắc họa vẻ đẹp Kiều bằng các hình ảnh của thiên nhiên. Làn nước mùa thu, nét núi mùa xuân. Đôi mắt Kiều đẹp, trong sáng, tác giả dành riêng tả Kiều ở đôi mắt- cái cửa sổ của tâm hồn, trong sáng,thanh thoát như nét núi mùa xuân. Vẻ đẹp ấy của Kiều cũng phải làm cho hoa ghen tức mà không thắm, liễu hờn mà kém xanh. Không cần đi sâu vào miêu tả chi tiết, rõ ràng khuôn mặt như cuả Vân mà ở đây chỉ với đôi mắt, đôi mắt khiến người khác phải xiêu lòng, yêu mến và say đắm. Bằng ngòi bút miêu tả tài hoa, sắc xảo của mình, tác giả đã khắc họa rõ nét bức chân dung về vẻ đẹp của Thuý Kiều.
Kiều càng sắc xảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Không những có nhan sắc mà Kiều còn là một người con gái tài giỏi. Tài năng của Thúy Kiều được thể hiện và đề cao. Những tài năng ấy được xem như là thiên phú, vốn là trời ban sinh ra đã có.Nàng là một người đa tài, hội tụ đầy đủ các tài năng về “cầm, kì, thi, họa”. Nhất là tài năng về đàn hát của Kiều. Môĩ khi tiếng đàn, tiếng hát của nàng vang lên là lúc khiến người ta phải say đắm. Những cung bậc âm thanh trong âm giai nhạc cổ cùng tài năng xuất chúng cuả mình, Kiều đã làm nên một thiên “Bạc mệnh”- một bản nhạc khiến lòng người phải suy tư về số phận mỏng manh, xấu số của con người bất hạnh. Thông qua việc miêu tả vẻ đẹp và tài năng của Thuý Kiều, Nnguyễn Du muốn nêu lên một dự cảm về kiếp người tài hoa nhưng bạc mệnh của Kiều.
Nóí đến cuộc sống của chị em Kiều, đó là một cuộc sống phong lưu, quyền qúy. Với lễ giáo nghiêm ngặt cùng gia phong, hai chị em Kiều vẫn sống êm đềm, kín đáo sau “trướng rũ màn che”, không hề bận tâm, để ý đến những “tường đông ong bướm” .Điều đó cho thấy Kiều và Vân là những người con gái có đạo đức và phẩm cách tốt, được sống trong một gia đình rất êm ấm, hạnh phúc.
Qua đoạn trích “Chị em Thuý Kiều”, trích “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du, hình ảnh chị em Thúy Kiều hiện lên rõ nét là hai con người vẻ đẹp và tài năng hơn người. Đồng thời, còn thể hiện dự cảm về kiếp người tài hoa bạc mệnh của cảm hứng nhân văn ở Nguyễn Du. Điều tạo nên sự thành công và độc đáo cuả đoạn trích là bút pháp ước lệ tượng trưng và nghệ thuật miêu tả người.
 

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Cảm nhận về số phận của người phụ nữ trong xã hội cũ qua nhân vật Vũ Nương và Thúy Kiều


Dàn ý

1. Mở bài
  • "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ và "Truyện Kiều" của Nguyễn Du là hai tác phẩm khá thành công khi viết về số phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
  • Qua hai tác phẩm đã học: "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ và "Truyện Kiều" của Nguyễn Du, ta thấy rõ những nỗi đau khổ mà người phụ nữ phải gánh chịu.
2. Thân bài
* Nhân vật Vũ Nương trong "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ: Nàng Vũ Nương là nạn nhân của chế độ phong kiến nam quyền đầy bất công đối với số phận người phụ nữ.

  • Cuộc hôn nhân của Vũ Nương với Trương Sinh không bình đẳng (Trương Sinh xin mẹ trăm lạng vàng cưới Vũ Nương về làm vợ) - sự cách biệt giàu nghèo khiến Vũ Nương luôn sống trong mặc cảm "thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu" và cũng là cái thế để Trương Sinh đối xử với vợ một cách vũ phu, thô bạo và gia trưởng.
  • Chỉ vì lời nói con trẻ ngây thơ mà Trương Sinh tin nên đã hồ đồ độc đoán mắng nhiếc đánh đuổi vợ đi, không cho nàng thanh minh, Vũ Nương buộc phải tìm đến cái chết oan khuất để tự minh oan cho mình.
  • Cái chết đầy oan ức của Vũ Nương cũng không hề làm cho lương tâm Trương Sinh day dứt. Anh ta cũng không hề bị xã hội lên án. Ngay cả khi biết Vũ Nương bị nghi oan, Trương Sinh cũng coi nhẹ vì việc đã qua rồi. Kẻ bức tử Vũ Nương coi mình hoàn toàn vô can.
* Nhân vật Thuý Kiều trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du: Nàng Kiều lại là nạn nhân của xã hội đồng tiền đen bạc:
  • Vì tiền mà bọn sai nha gây nên cảnh tan tác, chia lìa gia đình Kiều.
"Một ngày lạ thói sai nha
Làm cho khốc liệt chẳng qua vì tiền"

  • Để có tiền cứu cha và em khỏi bị đánh đập, Kiều đã phải bán mình cho Mã giám sinh - một tên buôn thịt bán người, để trở thành món hàng cho hắn cân đong, đo đếm, cò kè, mặc cả, ngã giá...
  • Cũng vì món lợi đồng tiền mà Mã giám sinh và Tú bà đã đẩy Kiều vào chốn lầu xanh nhơ nhớp, khiến nàng phải đau đớn, cay đắng suốt mười lăm năm lưu lạc, phải "thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần"
* Điểm giống nhau giữa hai nhân vật:
  • Họ đều là những người phụ nữ đẹp về mọi mặt nhưng đều bất hạnh.
  • Nạn nhân của xã hội phong kiến với nhiều định kiến hẹp hòi, bất công với người phụ nữ.
  • Những người phụ nữ như Vũ Nương, Thuý Kiều đều phải tìm đến cái chết để giải mọi nỗi oan ức, để giải thoát cuộc đời đầy đau khổ, oan nghiệt của mình.
* Khái quát, nâng cao:
  • Người phụ nữ trong hai tác phẩm "Chuyện người con gái Nam Xương" và "Truyện Kiều" hội tụ những vẻ đẹp đáng quý nhất và cũng là đầy đủ những gì đau khổ, tủi nhục nhất của con người. Họ là đại diện tiêu biểu của hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ.
  • Viết về người phụ nữ, các nhà văn, nhà thơ đã đứng trên lập trường nhân sinh để bênh vực cho họ, đồng thời lên tiếng tố cáo gay gắt với các thể lực đã gây ra nỗi đau khổ cho họ.
  • Liên hệ với cuộc sống của người phụ nữ trong xã hội hiện đại.
3. Kết bài
  • Người đọc hiểu và cảm thông sâu sắc với những người phụ nữ bất hạnh.
  • Đấu tranh cho hạnh phúc của người phụ nữ.
Vũ trụ có nhiều kì quan nhưng kì quan tuyệt phẩm, huyền bí nhất có lẽ là phụ nữ. Trong xã hội ngày nay, vai trò và hình ảnh của người phụ nữ được tôn vinh hơn hẳn những thời kì lịch sử trước, những thời kì nước ta đang đắm chìm trong đêm đen loạn lạc của chế độ phong kiến. Thương thay, số phận của người phụ nữ phong kiến thật chua xót bất hạnh. Bằng sự đồng cảm và cảm thông ấy các nhà thơ nhà văn cùng thời đã tạc vào lịch sử văn học Việt Nam hình ảnh người phụ nữ phong kiến, đại diện cho cái đẹp hoàn mĩ. Đó là hai tác phẩm tiêu biểu Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ và Truyện Kiều của Nguyễn Du. Mặc dù hai nàng Kiều, Vũ Nương tài sắc vẹn toàn nhưng cuộc đời hai nàng lại chất chứa những trang buồn đầy nước mắt, bi kịch.

"Chuyện người con gái Nam Xương" xoay quanh về cuộc đời và số phận bi thảm của Vũ Nương - người con gái nhan sắc, đức hạnh. Nàng lấy chồng là Trương Sinh, con nhà hào phú nhưng ít học, có tính đa nghi và hay ghen. Cuộc sống gia đình đang êm ấm thì Trương Sinh phải đầu quân đi lính. Chàng đi đầy tuần, Vũ Nương sinh con trai, hết lòng nuôi dạy con, chăm sóc, lo ma chay cho mẹ già chu đáo và thủy chung đợi chồng. Đêm đêm, nàng thường trỏ bóng mình trên vách và nói với con đó là cha của bé. Giặc tan, Trương Sinh trở về, tin lời con nhỏ, nghi ngờ vợ thất tiết, nhục mạ, đánh đuổi nàng đi. Phẫn uất, Vũ Nương nhảy xuống sông Hoàng Giang tự vẫn. Sau một thời gian, chàng Trương Sinh mới biết được nỗi oan của vợ và lập đàng giải oan cho nàng. Vũ Nương hiện về giữa bến Hoàng Giang lúc ẩn, lúc hiện rồi biến mất.

Truyện Kiều nói về nàng Kiều là người con gái đầu lòng trong một gia đình trung lưu lương thiện, sống cùng cha mẹ và hai em, là người tài sắc vẹn toàn. Trong buổi du xuân Kiều gặp Kim Trọng 2 người nảy sinh tình cảm, hai người tự do đính ước với nhau. Kim Trọng về quê chịu tang chú. Gia đình Kiều bị mắc oan, Kiều phải bán mình chuộc cha. Kiều bị bọn buôn người là Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt đẩy vào lầu xanh. Nàng được Thúc Sinh cứu vớt nhưng lại bị vợ cả là Hoạn Thư ghen tuông đầy đọa. Kiều đến nương nhờ cửa phật, sư Giác Duyên gửi nàng cho Bạc Bà vô tình đẩy nàng vào lầu xanh lần hai. Ở đây Kiều gặp Từ Hải, Từ Hải lấy Kiều giúp Kiều báo ân báo oán. Từ Hải bị Hồ Tôn Hiến hãm hại, Kiều bị ép gả cho viên thổ quan. Kiều đau đớn tủi nhục, Kiều trẫm mình ở sông Tiền Đường và được sư Giác Duyên cứu lần hai Kiều nương nhờ cửa phật. Sau khi chịu tang chú xong chàng Kim trở lại tìm Kiều thì mới biết gia đình Kiều bị tai biến và nàng phải bán mình chuộc cha. Kim Trọng kết hôn với Thúy Vân nhưng chẳng nguôi được mối tình say đắm chàng đi tìm Kiều. Nhờ gặp sư Giác Duyên Kim Kiều gặp nhau gia đình đoàn tụ.

Nguyễn Du có viết:

"Đau đớn thay phận đàn bà

Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung".


Đó là những lời xót xa của Nguyễn Du khi viết về cuộc sống của những người phụ nữ trong xã hội mà ông đang sống. Dường như ông thấu hiểu sự đau khổ và bất lực của những người phụ nữ trong xã thời phong kiến, cái xã hội thối nát, đầy rẫy những sự bất công và trọng nam khinh nữ. Tất cả những người phụ nữ ở thời đại đó đều thùy mị, đảm đang nhưng chỉ vì những thế lực phong kiến, những cách nghĩ ngu muội mà cuộc đời họ đã chịu nhiều khổ cực. Mỗi người họ đều có một cuộc đời riêng, một nỗi đau khổ riêng, nhưng họ đều có đặc điểm chung là "bạc mệnh". Ta có thể thấy điều đó qua nhân vật Vũ Nương trong "Chuyện người con gái Nam Xương" của Nguyễn Dữ và Thúy Kiều trong "Truyện Kiều" của Nguyễn Du

Người phụ nữ trong thời phong kiến xưa xuất hiện trong văn học thường là những người phụ nữ xinh đẹp. Từ vẻ đẹp ngoại hình cho đến tính cách. Đều là đẹp nhưng mỗi người lại mang một vẻ đẹp khác nhau, mỗi thân phận có một đặc điểm ngoại hình riêng biệt. Ở Vũ Nương, nàng "thùy mị, nết na, lại thêm tư dung tốt đẹp". Khi lấy Trương Sinh, biết chàng có tính hay ghen nên nàng "cũng giữ gìn khuôn phép, chưa từng lúc nào để vợ chồng xảy ra thất hòa". Nàng luôn một lòng, một dạ quý chồng thương con nên khi chàng Trương đi lính, nàng "không mong được đeo ấn phong hầu, chỉ cần ngày về được mang theo hai chữ bình yên". Có thể thấy, nàng là người con gái hiền lành, chất phác, cưới chàng Trương, nàng không hề mong danh lợi hay vinh hoa, phú quý mà chỉ vì một mong ước rất bình thường mà người phụ nữ nào cũng muốn "thú vui nghi gia, nghi thất". Khi chàng Trương đi lính, Vũ Nương một mình nuôi con, hết lòng chăm lo cho mẹ chồng như mẹ đẻ của mình. Lúc mẹ chồng bị bệnh, nàng đã hết mực chăm sóc, rồi khi bà mất, nàng làm ma chay, tế lễ chu đáo, nuôi con khôn lớn chờ đợi ngày Trương Sinh trở về. Đó là những nét đẹp về ngoại hình và cả trong tâm hồn của người phụ nữ xưa. Và đặc biệt phải kể đến cả Thúy kiều, một người con gái tài sắc vẹn toàn. Khi cha bị nghi oan, không có tiền để cứu cha, nàng đã bán mình chuộc cha dù đã có lời thề non hẹn biển với Kim Trọng. Từ đó, nàng đã không biết bao nhiêu lần rơi vào tay của những tên bán người như Tú Bà, Sở Khanh, Mã Giám Sinh...lừa gạt. Ở nơi đất khách quê người, bị đẩy vào những chốn lầu xanh, nàng vẫn lo nghĩ cho Kim Trọng, cho cha mẹ mình hơn cả bản thân. Nàng nhớ đến Kim Trọng, nhớ đến những ngày thánh cùng chàng nguyện ước. Nàng lo không biết ai sẽ chăm lo cho cha mẹ, ai sẽ quạt cho cha mẹ mỗi khi hạ đến, ai sẽ ủ chăn cho cha mẹ mỗi khi sang thu. Một tâm hồn thủy chung và cao thượng. Họ, những người phụ nữ phong kiến đều là những con người đẹp người đẹp nết. Họ một lòng chung thủy, hiếu thảo với cha mẹ, luôn hết lòng chăm sóc gia đình thật tốt và chu đáo.

Những người phụ nữ đẹp là thế, tâm hồn thanh cao là vậy, nhưng đáng tiếc thay họ lại sống trong một xã hội phong kiến thối nát với bộ máy quan lại mục rỗng, chế độ trọng nam khinh nữ vùi dập số phận họ. Càng xinh đẹp họ lại càng đau khổ, lại càng phải chịu nhiều sự chèn ép, bất công. Như một quy luật khắc nghiệt của thời bấy giờ, hồng nhan thì bạc phận. Với Vũ Nương, sau khi chồng về, tưởng rằng gia đình sẽ sum vầy trong hạnh phúc nhưng không ngờ số phận bạc bẽo đã xảy ra với nàng. Trương Sinh đi lính trở về và đứa con của chàng lúc đó đã biết nói. Tin lời của 1 đứa trẻ ngây ngô mà Trương Sinh đã đem lòng nghi oan cho Vũ Nương. Chàng bảo thủ, khăng khăng, nhiếc mắng và đánh đuổi Vũ Nương 1 cách thậm tệ. Bỏ ngoài tai những lời khuyên ngăn của dân làng, không thèm nghe những lời giải thích của Vũ Nương, Trương sinh với cái tính ích kỉ, sự ghen tuông quá đỗi đã đẩy Vũ Nương đến ngõ cụt. Nàng phải lấy cái chết để giữ trong trắng cho bản thân mình. Nhưng cái chết đó không hề làm lương tâm Trương Sinh day dứt. Thật quá bất công. Cái chết của nàng không chỉ tố cáo tính cách của chàng Trương, mà còn tố cáo cả xã hội phong kiến thời bấy giờ. Với chế độ nam quyền thối nát, độc đoán, nó đã làm cho phụ nữ lúc bấy giờ phải chịu rất nhiều những oan trái, tủi nhục không đáng có. Chỉ vì cái xã hội trọng nam khinh nữ, cái xã hội người phụ nữ luôn ở mức thấp hèn mà nàng đã phải ôm nỗi đau không được giải oan mà tự vẫn.

Không những Vũ Nương mà còn có rất nhiều người phụ nữ phải chịu những đau đớn đó. "Phận đàn bà" trong xã hội ấy là "đau đớn", là "bạc mệnh", là tủi nhục không kể xiết. Như là Vương Thúy Kiều trong "Truyện Kiều" - tiếng kêu thương thống thiết, ai oán, não nùng của đại thi hào dân tộc "Nguyễn Du". Số phận của nàng còn lênh đênh hơn Vũ Nương rất nhiều. Lần này, dưới chế độ đồng tiền hôi tanh đen bạc. Nó đã tạo ra 15 năm đau đớn phiêu bạt của nàng Kiều xinh đẹp. Chỉ vì tiền mà bọn sai nha đã gây nên cảnh tan tác, chia lìa của gia đình Kiều. Để có tiền cứu cha và em trai của mình, nàng đã quết định bán thân cho Mã Giám Sinh – một tên gian ác buôn thịt bán người. Và Kiều bỗng trở thành một món hàng để cho hắn cân đong, đo đếm, cò ke, ngã giá... Và từ tay Mã Giám Sinh đểu cáng thì Kiều đã rơi vào tay Tú Bà, mụ chủ nổi tiếng của thanh lâu. Là một người con gái xinh đẹp, tài năng, và đã sinh trưởng trong một gia đình trung lưu, lương thiện gia giáo, dòng dõi cao quý, nên Thúy Kiều không thể chấp nhận trở thành gái lầu xanh. Nàng cay đắng chịu đựng những trận đòn tàn khốc của Tú Bà, nàng đã đi tìm cái chết nhưng không được vì bị Tú bà bắt gặp. Tú Bà đã bày muốn thuê Sở Khanh lừa nàng, buộc nàng trở thành một cô gái lầu xanh thực thụ. Thế là nàng đau đớn, cay đắng cam chịu số phận dấn thân vào cuộc sống ô nhục. Đau đớn thay! Từ một cô gái trong trắng, đức hạnh, nàng đã trở thành một món đồ chơi thú vị cho bọn khách chơi. Số phận trái ngang của Kiều không chỉ dừng lại ở đây mà số phận của nàng còn lênh đênh, bèo dạt, mây trôi và lưu lạc 15 năm trời, đã chịu bao nhiêu tai họa giáng xuống đầu

Vũ Nương và Thúy Kiều thật đáng thương! Họ dường như đại diện cho tầng lớp phụ nữ ngày xưa. Họ không được hưởng bất cứ một thứ quyền lợi, không được hưởng một chút tự do. Thật bất công! Những hủ tục phong kiến thối nát đã tạo nên khổ đau cho người phụ nữ. Số phận của họ không thoát khỏi nanh vuốt của xã hội vô lí đó. Nhưng tất cả những vẻ đẹp từ hình thức đến tâm hồn của họ thì luôn luôn đáng ca ngợi, đáng trân trọng và nâng niu.

Trong xã hội phong kiến xưa, quyền sống còn của con người mà nhất là quyền sống của người phụ nữ như là chỉ mãnh treo chuông, không có gì đảm bảo để tồn tại. Cuộc sống của họ cũng có thể được ví như "chim trong lồng, cá trong chậu". Họ không thể làm chủ được bản thân, làm chủ được cuộc sống của chính bản thân mình dẫu cho họ chỉ khát khao một điều giản đơn ấy thôi. Tại sao lại như thế? Khi cái mơ ước, niềm mong mỏi của những người phụ nữ quá đỗi tầm thường, bình dị: "làm chủ được cuộc sống, có một gia đình hạnh phúc" nhưng chẳng thể nào thực hiện được. Vâng, xin thưa rằng đó chình là tạo hóa trớ trêu mà thôi, thích đùa giỡn với số phận người phụ nữ.
 

Trang Dimple

Học học Nữa học mãi
Bức chân dung của Thúy Vân và Thúy Kiều trong đoạn trích Chị em Thúy Kiều

Với bức chân dung của Thúy Vân và Thúy Kiều, Nguyễn Du đã nâng cao nghệ thuật tả người lên đến mức tuyệt đỉnh. Dường như, đó là hai vẻ đẹp không có giới hạn, vượt ra khỏi mọi cái đẹp đã có và hiện có. Có lẽ nguyễn Du đã quá ưu ái dành cho nhân vật của mình những lời quá lẽ đẹp đẽ, nhưng qua đó đã đưa trí tưởng tượng của người đọc đi đến tận cùng của cảm nhận và tưởng tượng.

Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp ước lệ để ca ngợi hai chị em Thúy Vân, Thúy Kiều nhưng đậm nhạt khác nhau ở mỗi người. Rõ ràng bức chân dung của Thúy Kiều nổi bật hơn, nhưng Thúy Vân không kém phần tươi sắc. Có thể nói vẻ đẹp của Thúy Kiều và Thúy vân là hai bức chân dung tuyệt mĩ mà đất trời đã dày công tạc khắc.

Ở chân dung của Thúy Vân, tác giả dùng 4 câu thơ để tả Vân. Thúy Vân chỉ được miêu tả ngoại hình theo thủ pháp liệt kê:

Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang.
Hoa cười, ngọc thốt, đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.


Ở Thúy vân, Nguyễn Du đã vận dụng 7 yếu tố để diễn tả cái đẹp của nàng. Đầu tiên là ở thần thái: trang trọng khác vời. Tiếp đến là lựa chọn sau đặc điểm tiêu biểu: khuôn trăng, nét ngài, nụ cười, tiếng nói, nước tóc, màu da. Đó là hình thức bề ngoài. Với Thúy Vân, tác giả chỉ tả sắc. Miêu tả chân dung của Thúy Vân trước để làm nổi bật chân dung Thúy Kiều.

Ở chân dung của Thúy Kiều, tác giả dùng đến 12 câu:

Kiều càng sắc sảo, mặn mà,
So bề tài sắc vẫn là phần hơn.
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh.

Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ đủ mùi ca ngâm.

Cung, thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên chương,
Một thiên “Bạc mệnh” lại càng não nhân.


Thúy Kiều được miêu tả cả nhan sắc lẫn tài năng. Sắc đẹp của nàng được lựa chọn kĩ lưỡng hơn Thúy Vân. Về thần thái: sắc sảo, mặn mà. Về đặc điểm bề ngoài tuy được miêu tả ít hơn Thúy Vân nhưng đậm nét hơn

Tác giả đặc tả đôi mắt của Kiều theo lối điểm nhãn – vẽ hồn cho nhân vật, gợi nhiều hơn tả. Đặc tả vẻ đẹp đôi mắt: vừa gợi vẻ đẹp hình thức, vừa gợi vẻ đẹp tinh hồn (hình ảnh ước lệ). Dùng điển cố “nghiêng nước nghiêng thành” để diễn tả vẻ đẹp hoàn hảo có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Bởi thế, tuy tả ít mà gợi nhiều. Nguyễn Du chú trọng gợi lên cái vẻ đẹp hài hòa, tuyệt diệu, chỉ có thể gợi chứ không thể tả được. Cái tài của Nguyễn Du biểu hiện ở chỗ miêu tả ngoại hình nhân vật làm hiện lên vẻ đẹp tính cách và tâm hồn.

Về tài năng, Thúy Kiều có nhiều tài năng vượt trội, đều đạt tới mức lý tưởng. Nàng thông minh đã sẵn, lại sành sỏi các thú tiêu dao của người xưa: cầm, kì, thi họa. Không những “cung Thương làu bậc ngũ âm” mà còn “nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương”. Nàng còn sáng tạo trong nghệ thuật, viết nên khúc Bạc mệnh não sầu lòng người.

Cả tài năng và sắc đẹp của Thúy Kiều được nguyễn Du nâng lên đến hạng chưa từng có ở trên đời: Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai.

Rõ ràng, bức chân dung của Thúy Kiều vượt trội xa so với chân dung Thúy Vân. Qua việc miêu tả hai bức chân dung ấy, tác gải cũng ngầm dự báo về tương lai của hai mĩ nhân. Thúy Vân với vẻ đẹp phúc hậu, khiêm nhường sẽ có một cuộc đời êm đẹp. Thúy Kiều với vẻ đẹp phát lộ rực rỡ sẽ mang lấy những tai ương sau này. Phải đâu nàng gây nên điều đó, chỉ vì đất trời có lòng đố kị mà thôi. Như chính Nguyễn Du đã nói hồng nhan bạc mệnh.
 
Top