Bài Văn Hay Bình giảng bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của TS Chu Văn Sơn

Ngọc Suka

Thành Viên
Bình giảng bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của TS Chu Văn Sơn

Trong các nhà Thơ mới, hẳn Hàn Mặc Tử phải bất hạnh nhất, lạ nhất và phức tạp nhất. Vì thế, cũng bí ẩn nhất. Có ai định tranh chấp với Tử về những cái “nhất” ấy không? Ví Tử với ngôi sao chổi, Chế Lan Viên đã thật có lí. Và cũng như thái độ dành cho một ngôi sao chổi quá lạ, bao ống kính thiên văn đã đua nhau chĩa về Hàn Mặc Tử. Tiếc thay vùng sáng vừa trong trẻo, vừa chói lói, vừa ma quái phát ra từ ngôi sao có sức cuốn hút bao nhiêu cũng có sức xô đẩy bấy nhiêu. Đến nay đã có bao cuộc thăm dò, thám hiểm. Ướm đi, ướm lại, với một hiện tượng “bấn loạn” nhường này, người ta thấy tiện nhất là xếp vào loại siêu: nào siêu thực, siêu thức, nào siêu thoát, v.v… vậy mà, nào đã thoát! Rốt cuộc, lơ lửng treo phía trước vẫn cứ còn đó câu hỏi: “Hàn Mặc Tử, anh là ai?”.

Ngày trước, cuộc xung đột “bách gia bách ý” chỉ xảy ra với Hàn Mặc Tử, nói chung. Đây thôn Vĩ Dạ vẫn hưởng riêng một không khí thái bình. Phải đến khi được mạnh dạn tuyển vào chương trình phổ thông cải cách, sóng gió mới ập đến cái thôn Vĩ bé bỏng của Tử. Thế mới biết chả hồng nhan nào thoát khỏi truân chuyên! Có người hạ bệ bằng cách chụp xuống một lí lịch đen tối, người khác đã đem tới một cái bóng đè. không ít người thẳng tay khai trừ Đây thôn Vĩ Dạ khỏi danh sách những kiệt tác thuộc vào phần tinh chất của hồn thơ Tử… Ngay những ý kiến đồng lòng tôn vinh Đây thôn Vĩ Dạ cũng rất phân hóa. Người si mê chỉ thấy đó là tỏ tình, người vội vàng bảo rằng tả cảnh; cảnh Huế và người Huế, người khôn ngoan thì làm một gạch nối: tình yêu và tình quê; kẻ bảo hướng ngoại, người khăng khăng đòi hứng nội, lắm người dựa hẳn vào mối tình Hoàng Cúc như một bảo bối mà tham chiến, người dẹp hẳn mảng tiểu sử quan trọng ấy sang bên để chỉ đột phá vào văn bản không thôi, v.v… Tôi tin Hàn Mặc Tử không bác bỏ những cực đoan ấy. Nếu sống lại, thi nhân sẽ mỉm cười độ lượng với mọi ý kiến vì quá yêu Vĩ Dạ bằng những cách riêng tây và nghiêng lệch thôi. Ngay một câu “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” cũng thành chuyện cái màn “sương khói” làm “mờ nhân ảnh” là ở Vĩ Dạ hay ở chốn người thi sĩ đang chịu bất hạnh cũng gây bất đồng… Hèn chi, hai tờ báo liên quan đến nhà trường và văn chương là Giáo dục và thời đại và văn nghệ được phen chịu trận. Dù muốn hay không, nó cũng đã thành một “vụ” thực sự thời bấy giờ. Đến nay, khó mà nói là đã chịu nhau. Tình hình xem ra khá mệt mỏi, khó đặt được dấu chấm hết. Hai báo đành thổi còi thu quân với một vài tiểu kết nghiêng về “điểm danh”. Một độ sau, nhà giáo – nhà nghiên cứu Văn Tâm, khi soạn cuốn Giảng văn văn học lãng mạn (NXB Giáo dục, 1991) đã điểm sâu hơn. Rồi, nhà biên soạn này cũng nhanh chóng trở thành một ý kiến trong cái chuỗi dài dài đó. Cuộc hành hương về Vĩ Dạ lại tiếp tục đua chen. Khói hương và cả khói lửa, vì thế, tràn lan ra nhiều báo khác, sang tận tờ Tập văn thành đạo của giáo hội Phật giáo Việt Nam, động đến cả những người đang ở Hoa Kì, Canađa…

Chắc là hiếm có bài thơ nào trong trẻo mà đầy bí ẩn đến như Đây thôn Vĩ Dạ. Xem ra, cái chúng ta “gỡ gạc” được mới thuộc phần “dẽ dãi” nhất ở đó thôi!

Đành rằng, trong cảm thụ nghệ thuật, mọi việc khác không thể thay thế việc dùng trực cảm và phân tích đột phá vào bản thân tác phẩm. Nhưng nguyên tắc độc tôn ấy ở đây đã cho thấy là không mấy hi vọng, nếu không nói là trở nên kém thiêng. Thôn Vĩ Dạ dường như “vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt”, cự tuyệt ngay cả những linh khiếu vốn cả tin vào một trực giác đơn thuần. Đây thôn Vĩ Dạ vẫn điềm nhiên giấu kín ngay trong sự trong trẻo kia bao bí ẩn của nó. Muốn đến đúng chỗ giấu vàng của thôn Vĩ, trực cảm nhất thiết phải được trang bị thêm một “sơ đồ chỉ dẫn”, một chìa khóa. Những thứ này, tiếc rằng cũng giấu mình khắp trong thơ Hàn Mặc Tử.

Coi một tác phẩm đã gắn làm một với cái tên Hàn Mặc Tử là không tiêu biểu cho tinh chất của hồn thơ Tử, e chừng phải xem lại cái vội cho là tinh chất kia. Mỗi bài thơ hay – nhất là những tuyệt tác - bao giờ cũng có “mạng vi mạch” nối với tinh hoa và tinh huyết của hồn thơ ấy! Thậm chí, mọi hệ thống kiến giải mới về hiện tượng Hàn Mặc Tử khó được coi là thuyết phục khi chưa thử sức ở Đây thôn Vĩ Dạ. Đã đến lúc phải lần ra “mạng vi mạch” ấy, tinh hoa tinh huyết ấy.

Nói một cách khác, mỗi tác phẩm sống trong đời như một sinh mệnh riêng, tự lập. Có một thân phận riêng, một giá trị riêng, tự thân. Đọc thơ, căn cứ tin cậy nhất vẫn là văn bản thơ. Đó là một nguyên tắc, và nhiều khi không biết gì về tác giả, vẫn có thể cảm nhận được tác phẩm. Nhưng “hiểu” và “hiểu thấu đáo” là hai cấp độ. Muốn thấu đáo tác phẩm, dứt khoát phải am tường tác giả. Trường hợp trong trẻo mà đây bí ẩn như Đây thôn Vĩ Dạ, với một vị thân sinh đầy phức tạp như Hàn Mặc Tử càng cần phải thế.

Trong nhiều điều cần cho sự soi sáng thôn Vĩ Dạ, không thể không nói đến một “tình yêu tuyệt vọng”, “lối thơ điên” và “lớp trầm tích những biểu tượng”. Nếu “tình yêu tuyệt vọng” quyết định đến điệu tình cảm chung, thì lối thơ điên quyết định đến trình tự cấu tứ, cơ cấu không gian. Trong khi đó, lớp trầm tích những biểu tượng quyết định đến hệ thống hình tượng, hình ảnh của thi phẩm đặc sắc này.

Ai đã đọc Hàn Mặc Tử hẳn phải thấy rằng tập thơ quan trọng nhất của thi sĩ chính là Đau thương. Thực ra, ban đầu Hàn Mặc Tử muốn đặt cho nó một tên khác, “dễ sợ” hơn: Thơ điên. Hai cái tên có thể hoán cải cho nhau, là một điều đáng để cho ta lưu ý. Nó nói rằng Tử đã tự ý thức khá sâu sắc về chính mình. Vâng, Đau thương và Điên chính là Hàn Mặc Tử. Đau thương là cội nguồn sáng tạo, còn Điên chỉ là hình thức của sáng tạo ấy. Đọc ra điều này có lẽ không khó. Còn nhận diện Đau thương lại chẳng dễ dàng chi. Chả thế mà người ta cứ mãi đánh đồng “đau đớn thân xác” với “đau khổ tinh thần” và cứ muốn coi Điên chỉ đơn giản như một trạng thái bệnh lí.

Suy cho cùng Đau thương chính là một tình yêu tuyệt vọng. Ta thường tự cầm tù trong định kiến về tuyệt vọng. Thực ra, tuyệt vọng có thể kết thúc hi vọng, nhưng không kết thúc tình yêu. Không phải nỗi tuyệt vọng nào cũng làm con người gục ngã. Còn có nỗi tuyệt vọng khiến tình yêu thăng hoa. Người ta đi đến tuyệt vọng có thể vì những nguyên ủy rất riêng tây kín khuất, đôi khi ta “bất khả tri” (một thiếu hụt, tổn thương, mất mát nào đó trong tâm thể chẳng hạn). Ai cũng thấy chết là một cuộc chia lìa tất yếu và đáng sợ. Sống có nghĩa là đang chia lìa. Nhưng, may thay, hết thảy chúng ta đều có khả năng quên đi mà vui sống. Còn ở những người như Tử dường như trời không phú cho họ cái khả năng quên. Càng mắc những bệnh trầm trọng lại càng ám ảnh. Sống trong dự cảm khôn nguôi về cái lúc chia lìa, Tử thường đẩy mình tới điểm chót cùng của tuyệt vọng để nuối đời, níu đời. Qua lăng kính lạ lùng của tình yêu tuyệt vọng, cảnh sắc cuộc đời này thường ánh lên trong hồn Tử rạng rỡ, lộng lẫy, thanh khiết hơn bao giờ hết. Mà càng đẹp, càng tuyệt vọng, càng tuyệt vọng lại càng đẹp! Mỗi lần cầm bút có khác nào một lần nói lời tuyệt mệnh, lời nguyện cuối. Cho nên mỗi lời thơ là như một lời bày tỏ da diết của một tấm tình tuyệt vọng mãnh liệt. Và điều oái oăm đã hình thành như thế: Tuyệt vọng đã trở thành một cảm quan, một cách thế yêu đời của Hàn Mặc Tử.

Thế mới đau thương. Thế là đau thương. Có lẽ ý thức về tình yêu tuyệt vọng làm nên thân phận mình, mà trong một bài thơ viết cho Thanh Huy – một người tình trong mộng – Tử đã tự họa bằng cặp hình ảnh trớ trêu này: “Mắt mờ lệ ở sau hàng chữ gấm”. Thơ Tử là như thế! Đọc Hàn, người ta thường chia ra bài này thuộc về “hàng chữ gấm” (trong trẻo, tươi tắn), bài kia thuộc về “mắt mờ lệ” (u ám, khổ đau) một cách tách bạch và phân liệt. Thực ra, tiếng thơ nào cũng thuộc về cả hai: “Hàng chữ gấm” chỉ là phía thấy được của đôi “mắt mờ lệ” đau thương mà thôi!

Là sản phẩm của nguồn thơ lạ lùng kia, “Đây thôn Vĩ Dạ” là lời tỏ tình với cuộc đời của một tình yêu tuyệt vọng. Bên dưới mỗi hàng chữ tươi sáng của cả bài thơ là cả một khối u hoài.

Và Đau thương đã tìm đến Thơ điên như một hình thức đặc thù đối với Hàn Mặc Tử. Sẽ không quá lời, khi nói rằng Tử đã buộc ta phải xét lại cái quan niệm hẹp hòi lâu nay về Thơ điên. Ta quen thấy điên như một trạng thái bệnh lí mà thường quên rằng còn có điên như một trạng thái sáng tạo (có không ít thi sĩ tìm đến “điên” như chạy theo một thứ “mốt” tân kì, thì điên thế chỉ là điên của người tỉnh queo!). Điên ở Tử là trạng thái đau thương bên trong đang chuyển hóa thành sáng tạo. Cảm xúc tuyệt vọng lại là dạng thức hưng phấn cực điểm, thái quá, khiến tâm tư xé rào vượt ra khỏi những lối đi, những giới hạn thông thường, thi hứng đến như cơn sốc, sáng tạo như lên đồng. Ra đời như vậy, Thơ điên thường có những biểu hiện: a) Mở ra một “kênh” hình ảnh lạ lùng với vẻ đẹp kì dị (thậm chí dễ sợ!); b) Những tiếng kêu lạ như buột lên từ những cơn đau (hú, hét, gào, rú…); c) Một lối liên tưởng rất “phi lôgic” (thoát li hẳn áp lực của lí trí). Điểm thứ ba này (c) đã khiến cho mỗi bài thơ khác nào những xao động tâm linh được tốc kí trung thực và trọn vẹn. Vẻ “điên” ấy hiện ra trong các bài thơ thành dòng tâm tư bất định, liên tục chuyển điệu, cùng một văn bản hình tượng liên tục chuyển “kênh”. Đặc tính này sẽ không khó nhận ra, nếu Tử viết thơ tự do. Còn ở những bài được viết thành các khổ tề chỉnh, vuông vức, tròn trịa, thì việc nhận biết khó hơn nhiều.

Có hình dung như vậy mới thấy Đây thôn Vĩ Dạ cũng là Thơ điên theo đúng nghĩa. Tuy không có những tiếng kêu lạ, không có những hình ảnh kì dị, ma quái, nhưng mạch liên tưởng toàn bài rõ ràng đã khước từ vai trò tổ chức của lí trí. Toàn bài là một mạch liên tưởng bất định, đứt đoạn, “cóc nhảy” – nghĩa là rất phi lôgic. Hoàn toàn không khó khăn lắm để thấy rằng thi phẩm được dệt bằng một chuỗi hình ảnh liên kết với nhau hết sức tự do, bất định: ngoại cảnh (phần đầu) với tâm cảnh (phần sau), tươi sáng (vườn thôn Vĩ) với âm u (cảnh sông trăng và sương khói), hi vọng (“Sao anh không về…“) với thất vọng (“Ai biết tình ai…”), v.v… Những mảng thơ phản trái nhau lại kết vào nhau ngỡ như chẳng có cái lí gì! Vậy mà vẫn liền khối, liền mạch! Nhìn kĩ sẽ thấy đó chỉ là hai phía của cùng một khối u hoài uẩn khúc: phía sáng của “hàng chữ gấm” và phía tối của “đôi mắt mờ lệ” đó thôi. Với một góc nhìn khác thì ở ngay trong từng khổ cũng đã thấy những chuyển điệu gấp khúc – nghĩa là cũng có phía sáng và phá tối riêng. Khổ đầu: Một ước ao thầm kín ngấm ngầm bên trong lại cất lên như một lời mời mọc từ bên ngoài, nỗi hoài niệm vốn âm u lại mang gương mặt sáng sủa của khát khao rạo rực. Khổ hai: Một ước mong khẩn thiết dâng lên thoắt hóa thành một hoài vọng chới với nghẹn ngào. Khổ ba: Một niềm mong ngóng vừa ló rạng đã vội hóa thành một mối hoài nghi. Vậy đấy, nếu lối “liên – tưởng – điên” tạo ra một văn bản hình tượng có vẻ “đầu Ngô mình Sở”, thì dòng chuyển lưu của mạch cảm xúc u hoài kia lại tạo ra một âm điệu nhất quán liền mạch phi lôgic ở bề mặt, nguyên phiến, nguyên điệu ở bề sâu, đó chính là vẻ đẹp lạ lùng của Đây thôn Vĩ Dạ. Vì thế, vào cõi thơ Tử, không thể chỉ chú mục vào phần “lộ thiên”, mà cần đào rất sâu vào tầng “trầm tích” nữa!

Trên đây, người viết đã lần theo tình yêu tuyệt vọng để thấy nó chi phối hình thức “điên” hao trùm của thi phẩm này. Không dừng lại ở đó, tình yêu tuyệt vọng còn can thiệp vào Đây thôn Vĩ Dạ ở một tầng sâu hơn: điệu tâm hồn riêng của tác phẩm. Ở tầng này, tình yêu tuyệt vọng hóa thân thành một mặc cảm sâu xa, thấm đẫm vào toàn thể bài thơ “mặc cảm chia lìa. Mà trước tiên, nó đổ bóng xuống cảm quan không gian của Tử, nó dàn dựng nên cái tương quan không gian của Đây thôn Vĩ Dạ.

Sau khi mắc bệnh nan y, Tử đã coi mình như một cung nữ xấu số bị số phận oan nghiệt đày vào lãnh cung. Ấy là lãnh cung của sự chia lìa! (Tôi không nhằm nói đến Gò Bồi hay Quy Hòa. Bởi đó chỉ là hai địa chỉ hạn hẹp trong cái lãnh – cung – định – mệnh ấy thôi!). Cơ hội về lại cuộc đời cơ hồ không còn nữa. Vô cùng yêu đời, thiết tha bao luyến mọi người, vậy mà Tử đã chủ động cách li, quyết định tuyệt giao với tất cả. Nhưng tuyệt giao mà chẳng thể tuyệt tình! Thậm chí, càng tuyệt giao, tình nhớ thương càng mãnh liệt hơn bao giờ hết. Hằng ngày ở trong cái lãnh cung ấy, Tử thèm khát thế giới bên ngoài kia: “Ngoài kia xuân đã thắm hay chưa? Trời ở trong đây chẳng có mùa, Không có niềm trăng và ý nhạc, Có nàng cung nữ nhớ thương vua”. Chủ động tuyệt giao thực ra chỉ là biểu hiện lộn ngược của lòng thiết tha gắn bó. Hễ tiễn một ai đến thăm mình về lại ngoài kia thì chẳng khác nào tiễn người từ chốn lưu đày vĩnh viễn về lại cuộc đời, thậm chí như tiễn từ cõi này về cõi khác. Một nửa hồn coi như đã chết theo. “Họ đã đi rồi khôn níu lại, Lòng thương chưa đã mến chưa bưa, Người đi một nửa hồn tôi mất, Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ”. Từ bấy trong thơ Tử hình thành hai không gian với phân định nghiệt ngã: Ngoài kia và Trong này. Nó là sự cách nhau của hai cõi, mà khoảng cách bằng cả một tầm tuyệt vọng. “Anh đứng cách xa nghìn thế giới, Lặng nhìn trong mộng miệng em cười, Em cười anh cũng cười theo nữa, Để nhắn hồn anh đã tới nơi”. Đọc thơ Hàn dễ thấy Ngoài kia và Trong này (hay Ở đây) là hai thế giới hoàn toàn tương phản. NGOÀI KIA: mùa xuân, thắm tươi, đầy niềm trăng, đầy ý nhạc, tràn trề ánh sáng, cuộc đời, trần gian, thiên đường sự sống, hi vọng, hạnh phúc… TRONG NÀY: chẳng có mùa, không ánh sáng, không trăng, không nhạc, âm u, mờ mờ nhân ảnh, lãnh cung, trời sâu, địa ngục, khổ hạnh… Trong này chỉ còn về lại được Ngoài kia bằng ước ao thầm lén, bằng khắc khoải tuyệt vọng mà thôi!

Tấm thiếp phong cảnh của Hoàng Cúc gửi vào lập tức đánh động cái khát vọng về NGOÀI KIA. Thôn Vĩ Dạ hiện lên như một địa danh khởi đầu, một địa chỉ cụ thể của NGOÀI KIA trong hồn Tử thôi. Nói một cách khác NGOÀI KIA trong cái giờ khắc ấy đã hiện lên bằng gương mặt Vĩ Dạ. Thèm về thăm Vĩ Dạ cũng chính là thèm khát về với NGOÀI KIA, với cuộc đời, với hạnh phúc, với tình yêu. Nghĩa là trong ý thức sáng tạo của Hàn Mặc Tử, Vĩ Dạ vừa là một địa danh cụ thể, vừa được tượng trưng hóa.

Trong văn bản bài thơ, có thể thấy tương quan không gian ấy ở hai địa danh: “Thôn Vĩ” (Ngoài kia) và “Ở đây” (Trong này). Thi sĩ hiện ra như một người đang “Ở đây”, ở Trong này mà khắc khoải ngóng trông hoài vọng về “Thôn Vĩ”, về Ngoài kia. Vì thế mà trong bài thơ có sự chuyển tiếp không gian rất tinh vi, kín mạch, khó thấy. Trong phần sâu của nội dung có thể thấy ba cảnh chính, ba đối tượng chính: vườn xa, thuyền xa, khách đường xa chúng hợp thành cái thế giới NGOÀI KIA để đối lập với Ở ĐÂY. Như đối lập quái ác giữa cuộc đời và lãnh cung, trần gian tươi đẹp và trời sâu ảm đạm, hạnh phúc và bất hạnh, sống và không sống, gắn bó và chia lìa, v.v… Điều đáng nói là: nếu lối liên tưởng đứt đoạn bất định của Thơ điên tạo ra sự chuyển làn các cảnh sắc không gian đột ngột gấp khúc đến phi lí, thì âm điệu tự nhiên nhuần nhuyễn của cùng một nỗi u hoài, trong cùng một lối thơ chia thành các khổ vuông vức, tròn trịa lại lấy đầy, san bằng những nếp gấp, vết gấp, khiến cho người đọc cứ mặc nhiên coi rằng bài thơ chỉ có sự nới rộng cùng một không gian (Thôn Vĩ) chứ không phải là sự ghép nối giữa các vùng không gian rất xa nhau (“Thôn Vĩ” – Ngoài kia và “Ở đây” – Trong này). Chữ “đây” ở nhan đề thuộc Vĩ Dạ. Còn “Ở đây sương khói…” thì đã vụt bay về cái trời sâu, cái lãnh cung bất hạnh của Tử rồi. Có hiểu thế, ta mới thấy lối biểu hiện phức tạp của Thơ điên và tình yêu tuyệt vọng đầy uẩn khúc của Tử.

Sự tương phản giữa hai miền không gian trên đây không chỉ là mặc cảm của một con người đang chia lìa với cuộc đời. Sâu sắc và thấm thía hơn, đó còn là mặc cảm của một thi sĩ đang phải ngày một lìa xa cái đẹp mà mình hằng tôn thờ, khao khát. Ai đã đọc thơ Tử hẳn phải thấy rằng chuẩn mực quan trọng nhất của cái đẹp theo quan niệm của Tử là sự THANH KHIẾT. Ở cảnh vật là vẻ THANH TÚ (Tử gọi là những “chốn nước non thanh tú”), ở con người là vẻ TRINH KHIẾT (tất nhiên phải là vẽ trinh khiết đầy xuân tình). Những hình tượng cơ bản của thi phẩm này: vườn thôn Vĩ, sông trăng – thuyền trăng, khách đường xa đều là những biểu hiện cụ thể của vẽ đẹp THANH KHIẾT đó. Trong mặc cảm chia lìa, tất cả những vẻ đẹp ấy đều khiến Tử lâm vào tuyệt vọng, và Tử đã cảm nhận những cảnh trí ấy qua lăng kính của niềm tuyệt vọng. Có lẽ trường hợp Tử là một minh chứng đáng sợ cho định nghĩa về cái đẹp của Pôn Valêri: “Cái đẹp là cái làm ta tuyệt vọng”. Trong nỗi tuyệt vọng ở Đây thôn Vĩ Dạ, thấy ẩn hiện đó đây cảm giác về một thực tại xa vời, một hiện tại ngắn ngủi và về sự tồn tại mong manh của mình. Tất cả những cảm giác này thấm vào giọng điệu thơ khiến cho nó trở nên khắc khoải, da diết.

Bài thơ được viết thành ba khổ dựa trên âm điệu chủ đạo của ba câu hỏi buông ra, buột lên, không có lời đáp. Câu hỏi chỉ là hình thức bày tỏ. Ngữ điệu hỏi càng về sau càng khắc khoải hơn, u hoài hơn. Nhờ một ngữ điệu nhất quán mà ba cảnh ở ba khổ thơ hiện ra vốn có vẻ “cóc nhảy”, đứt đoạn đã được xâu chuỗi lại, tự nhiên, khăng khít.

Câu mở đầu “Sao anh không về chơi thôn Vĩ”? là một câu hỏi nhiều sắc thái. Vừa hỏi, vừa nhắc nhớ, vừa trách, vừa mời mọc. Không phải câu hỏi của Hoàng Cúc đâu! Đơn giản vì trong tấm thiếp gửi vào, theo tài liệu của Võ Đình Cường, Nguyễn Bá Tín thì chẳng có câu nào thế cả. Cũng không phải lời một cô gái nào khác của Vĩ Dạ. Ấy là lời Tử. Tử đang tự phân thân để hỏi chính mình. Vừa hỏi vừa nhắc đến một việc cần làm, đáng phải làm, mà chẳng biết từ bao giờ có còn cơ hội để làm nữa không. Ấy là về lại thôn Vĩ, thăm lại chốn cũ, cảnh xưa. Niềm khát khao đã cất lên thành lời tự vấn. Ba câu sau vẽ ra một hình tượng chung – mảnh vườn thôn Vĩ:

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Mỗi câu là một chi tiết vườn. Tất cả họp lại, ánh lên một vẻ đẹp tinh khôi, thanh khiết. Thật bình dị mà thật cao sang. Đọc thơ Tử, thấy trở đi trở lại những hình ảnh vườn. Nào Vườn trần, Vườn tiên, nào Vườn chiêm bao… mỗi nơi một khác. Nhưng vườn của Tử vẫn có một diện mạo chung mà Tử đã từng gọi là “chỗ nước non thanh tú”. Phải, thiên nhiên mà Tử say đắm nhất thường phải có vẻ đẹp thanh tú! Dường như các mảnh vườn kia đã hò hẹn và đồng hiện, đầu thai thành vườn Vĩ Dạ này đây.

Nắng trong thơ Tử thường lạ, đầy ấn tượng với những nắng tươi, nắng ửng, nắng chang chang, nắng loạn… Đây Hàn Mặc Tử chỉ nói giản dị “Nắng hàng cau nắng mới lên”, cớ sao mà gợi thế! Có lẽ một câu thơ hay không chỉ hay vì những gì nó mang sẵn, mà còn vì những gì nó có khả năng gợi ra để người đọc đồng sáng tạo. Ai đã từng sống với cau, dễ thấy cau là một thứ cây cao, thậm chí ở mảnh vườn nào đó, có thể là cao nhất. Nó là cây đầu tiên nhận được những tia nắng đầu tiên của một ngày. Bởi thế mà tinh khôi. Trong đêm, lá cau được tắm gội trên cao, sắc xanh dường như mới được hồi sinh trong bóng tối, dưới ban mai lại mới mẻ thanh tân. Nắng trên lá cau là nắng ướt, nắng long lanh, nắng thiếu nữ. Bởi thế mà thanh khiết. Lại nữa, cau có dáng mảnh dẻ, bóng đổ xuống vườn trong nắng mai, in thành những đường tinh tế như kẻ chỉ xuống lối đi, xuống cảnh vật. Thân cau chia làm nhiều đốt đều đặn, cau khác nào như một cây thước mà thiên nhiên dựng sẵn trong vườn dùng để đo mực nắng. Nắng mai rót vào vườn cứ đầy dần theo từng đốt, từng đốt. Đến khi tràn đầy thì nó biến cả khu vườn xanh thành một viên ngọc lớn… Vậy đấy, câu thơ hay là câu thơ có khả năng đánh thức bao ấn tượng vốn ngủ quên trong kí ức con người! Song, trọng tâm của hình tượng vườn dường như thuộc về những nét vẽ ở hai câu sau. “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”, câu thơ có vẻ đẹp long lanh! Vì có sắc “mướt” chăng? Vì được sánh với “ngọc” chăng? Quả là, hai chữ ấy đã tác động ngay đến xúc cảm của người đọc thơ. Chữ “mướt” toát lên vẽ mượt mà, óng ả đầy sắc xuân. “Ngọc” vừa có màu, vừa có ánh. Vườn thôn Vĩ như một viên ngọc không chỉ rời rợi sắc xanh, mà dường như còn đang tỏa vào không gian cả những ánh xanh. Đơn sơ mà lộng lẫy. Thật thanh tú và cao sang! Nhưng, bên cạnh những chữ phô ngay ra vẻ quyến rũ ấy, còn có chữ khác khép nép ở bên cạnh. Khiêm nhường thôi, kín đáo thôi, nhưng dường như lại được Tử yêu tin mà gửi gắm, kí thác vào đó những uẩn khúc của lòng mình. Tôi muốn nói đến chữ “ai”. Nếu có bài chỉ có một chữ “ai” này, có lẽ cũng chưa có gì thật đáng nói. Bởi chữ “ai” thường chỉ có ý nghĩa “phiếm chỉ hóa”, “ỡm ờ hóa” mà thơ truyền thống đã khai thác quá nhiều. Cả bài có tới bốn chữ “ai” nằm ở cả 3 khổ! Chúng gắn với nhau bởi cả sắc thái lẫn giọng điệu tạo thành một “hệ vi mạch” ở sâu trong lòng bài thơ, bên dưới văn bản hình tượng, chuyển tải một cảm giác se xót: cảm giác về thực tại xa vời, hiện tại ngắn ngủi và cả sự tồn tại mong manh:

– Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

– Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

– Ai biết tình ai có đậm đà?

Tất cả vẫn đẹp đẽ, lộng lẫy thế mà đã ở ngoài tầm tay, đã thuộc về Ngoài kia, thuộc về những ai đó, xa vời, mông lung, nhoà nhạt. Ở câu thứ 3, không thể không nói đến chữ “quá” với hiệu quả nghệ thuật riêng của nó. Cũng là một từ chỉ mức độ, nhưng nó mang lại cho câu thơ âm hưởng của một tiếng kêu ngỡ ngàng, kinh ngạc như chợt nhận ra vẻ đẹp bất ngờ của khu vườn, mà có lẽ ở khoảnh khắc trước chưa thấy, khoảnh khắc sau đó cũng không thấy – “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. Câu thứ tư gây nhiều tranh luận: “Lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Lối tạo hình của nó là cách điệu hay tả thực? “Mặt chữ điền” là mặt phụ nữ hay đàn ông? Ý kiến đến nay không ngã ngũ. Thực ra, câu thơ có cách điệu gì đâu. Nó diễn tả một khuôn mặt chữ điền đang ẩn sau một cành lá trúc lòa xòa kia mà. Có người đã dày công để chứng minh ấy là mặt phụ nữ. Thiết tưởng muốn hiểu mặt đàn ông hay phụ nữ, trước tiên cần phải trả lời một câu hỏi khác: Đó là mặt người thôn Vĩ hay khuôn mặt người trở về thôn Vĩ? Xét cú pháp riêng của câu thơ, có quyền hiểu cả hai cách. Nếu là người thôn Vĩ (chủ nhân khu vườn) thì hẳn là khuôn mặt phụ nữ – Bởi một người đàn ông về thôn Vĩ chắc không phải để ngắm khuôn mặt đàn ông! Còn là người trở về thôn Vĩ, thì người ấy chính là Tử – khuôn mặt chữ điền là khuôn mặt tự họa đầy kiêu hãnh (và cả tự… vơ vào nữa!) của Tử. Tìm trong thơ Tử sẽ thấy đây là lối tạo hình rất phổ biến và thường là bức tự họa của thi sĩ. Tử hay vẽ khuôn mặt ẩn sau cành lê, khóm lau, rào thưa, bờ liễu, v.v… Có thể đó là khuôn hình Tử yêu thích. Nhưng có lẽ, sâu xa hơn, là sản phẩm của mặc cảm chia lìa. Mặc cảm này thường khiến Tử vẽ mình trong thơ như một “kẻ đứng ngoài”, “kẻ đi ngang qua cuộc đời”. “Kẻ đã chia lìa với đời”. Đứng ngoài mọi cuộc vui, mọi cảnh đẹp trần gian. Kẻ ấy về lại cuộc đời Ngoài kia một cách thầm lén vụng trộm thôi. Tử hình dung mình trở về thôn Vĩ (hay tái hiện một lần Tử đã trở về mà không vào, nép ngoài ngõ thì cũng thế!) vịn một cành lá trúc mà say ngắm vẻ đẹp thần tiên của khu vườn. Vậy nên cái câu thơ kia là sản phẩm của một tình yêu mãnh liệt mà cũng là sản phẩm của một tâm hồn đầy mặc cảm về thân phận mình. Đó chẳng phải là một niềm uẩn khúc đáng trân trọng mà cũng thật đáng thương sao?

Trong khổ thơ thứ nhất này, cảnh sắc là thôn Vĩ mà cũng là NGOÀI KIA, vườn Vĩ Dạ mà cũng là vườn trần gian. Qua lăng kính của mặc cảm chia lìa, của tình yêu tuyệt vọng, cả những cảnh vật đơn sơ cũng trở nên vô cùng lộng lẫy. Với Tử, đó là thiên đường trần gian – một thiên đường giờ đây dường như không còn thuộc về mình nữa. Việc về lại thôn Vĩ vốn là một việc bình thường, với Tử giờ đây lại thành một ước ao quá tầm với, thành một hạnh phúc – hạnh phúc ngoài tầm tay!

Khổ thứ hai chuyển sang một cảnh khác: cảnh dòng sông. Hiểu là sông Hương cũng được mà dòng sông nào đó của cuộc đời NGOÀI KIA cũng được. Mặc cảm chia lìa đã hiện ra trong câu chữ, hình ảnh và giọng điệu:

Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trong đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Hai câu trên nói đến một thực tại phiêu tán. Tất cả dường như đang bỏ đi: gió bay đi, mây trôi đi, dòng nước cũng chuồi đi… Có một cái gì như là sự ngang trái, trứ trêu. Gió mây làm sao có thể tách rời – mây không tự chuyển – gió thổi mây mới bay, không thể chia tách. Ấy thế mà sự chia lìa đã chia lìa cả những thứ vốn không thể chia lìa! “Dòng nước buồn thiu” vì tự mang trong lòng một tâm trạng buồn hay nỗi buồn li tán chia phôi từ mây gió đã bỏ buồn vào lòng sông? Lạ nhất là chữ. “lay”. Động thái lay tự nó không vui, không buồn. Sao trong cảnh này nó lại buồn hiu hắt vậy. Nó là một nét buồn phụ họa với gió, mây, dòng nước, hay nỗi buồn nước mây đã xâm chiếm, đã lây nhiễm vào lòng hoa bắp phất phơi này? Dường như có một chữ “lay” buồn như thế từ bông sậy của dân ca đã xuôi theo thời gian mà bay về thơ Tử:

Ai về giồng dứa qua truông

Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em.

Câu hát buồn như cơn gió buồn này đã lưu lạc mãi trong Nam Bộ. Và cũng hình như chữ “lay” ấy lại trôi nổi thêm nữa để đến với thơ hiện đại và đậu vào lá ngô của Trúc Thông trong hài Bờ sông vẫn gió:

Lá ngô lay ở bờ sông

Bờ sông vẫn gió người không thấy về.

Vậy đấy, nếu không có dáng “hoa bắp lay” của Tử hẳn bông sậy kia và lá ngô này khó mà lay được lòng chúng ta!

Trên cái xu thế đang trôi đi, chảy đi, bỏ đi, phiêu tán ấy, Tử chợt ước ao một thứ có thể ngược dòng “về” với mình, ấy là trăng

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Cũng phải thôi! Trong lãnh cung của sự chia lìa, vốn “không có niềm trăng và ý nhạc”, nên Tử ao ước trăng về như một niềm tin cậy, một bám víu, một khát khao, một tri âm, một cứu tinh, cứu chuộc! Người phân tích khó tránh khỏi sự quyến rũ của “sông trăng” và “thuyền chở trăng”. Đó quả là những hình ảnh thi vị tài hoa. Liên tưởng tinh tế đã tạo ra những hình ảnh trôi giữa đôi bờ Hư – Thực, vỗ vào cả hai bến Hiện Thực và Huyền Ảo. Dòng nước đang hóa mình thành dòng trăng hay ánh trăng đang tan mình thành nước? Thuyền chở trăng về cập bến thời gian, huyền ảo thêm mộng ảo! Song, đó chỉ là những nét duyên phô ra của câu thơ. Tôi muốn nói đến một chữ khác lâu nay bị bỏ quên, bởi nó lặng lẽ khiêm nhường chứ không bóng bảy ồn ào. Nó vẫn đẹp trong quên lãng. Ấy là chữ “kịp”. Phải, chữ “kịp” mới mang bi kịch của tâm hồn ấy, thân phận ấy! Ta và cả những người đọc thơ sau ta nữa không thể biết “tối nay” ấy là tối nào cụ thể. Nhưng qua giọng khắc khoải và chữ “kịp” này, ta nhận ra tất cả sự khẩn thiết của nó. Nếu như không”kịp” thì thi sĩ sẽ hoàn toàn lâm vào tuyệt vọng, vĩnh viễn đau thương. Chữ “kịp” hé mở cho ta thấy một mặc cảm: mặc cảm về một hiện tại ngắn ngủi, hé mở cho ta một cách thế sống: sống là chạy đua với thời gian. Quỹ thời gian đang vơi đi từng ngày, từng khắc, cuộc chia lìa vĩnh viễn đang tới gần, Tử mong mỏi đến đau thương! Thơ là sự lên tiếng của thân phận, định nghĩa ấy hoàn toàn đúng với Hàn Mặc Tử.

Khổ thứ ba, giọng khắc khoải đã hiển hiện thành nhịp điệu. Và phải đến đây khi trông ngóng “khách đường xa” thì nỗi niềm ấy mới da diết nhất. Nhịp thơ khác hẳn các đoạn trước – gấp gáp hơn, khẩn khoản hơn:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Vườn đẹp, trăng đẹp và bây giờ đến hình bóng đẹp của người khách đường xa, tất cả đều là những hình ảnh thắm sắc của NGOÀI KIA (“Ngoài kia xuân đã thắm hay chưa?”). Hình ảnh người con gái trong thơ Tử là biểu tượng sống động cho vẻ đẹp TRINH KHIẾT đầy xuân tình mà Tử hằng tôn thờ. Gắn làm một với hình dáng ấy là sắc áo trắng thanh khiết, tinh khôi! Cho nên, ngóng về thế giới thắm sắc của NGOÀI KIA, thì hình dáng người khách đường xa (người tình xa) phải là hình ảnh đậm nét nhất, rực rỡ nhất và cũng gây tuyệt vọng nhất. Vẻ đẹp trinh khiết mà Tử hằng tôn thờ được Tử dùng một sắc trắng kì lạ để cực tả. Mà đôi khi, thấy cả ngôn ngữ cũng bất lực không theo kịp trực giác của Tử. Tử đã dồn cả màu, cả ánh để tả: “Chị ấy năm nay còn gánh thóc, Dọc bờ sông trắng nắng chang chang”, thậm chí lời có lúc trở nên kì quặc: “Chết rồi xiêm áo trắng như tinh”… Ở đây nhiều người phân tích không nhận thấy đặc trưng ấy của thơ Tử, đã lí giải áo trắng quá nhìn không ra bởi vì lẫn vào sương khói mờ nhân ảnh. Không phải thế! Cụm từ “nhìn không ra” chỉ là một cách nói để cực tả sắc trắng – trắng một cách kì lạ, bất ngờ (giống cách viết, tiếng kêu “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc”). Không phải là sự thú nhận về nhìn không ra!

Đến đây, Tử mới trở về với nơi tồn tại của mình, với lãnh cung chia lìa bất hạnh của mình:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Ta cứ nghe đâu đây tiếng dội đau thương của Những giọt lệ: “Tôi đang còn đây hay ở đâu, Ai đem tôi bỏ dưới trời sâu” hay “Trời hỡi bao giờ tôi chết đi, Bao giờ tôi hết được yêu vì?”… Tử yêu đời đến đau đớn tuyệt vọng. Còn cuộc đời? Tình đời liệu còn dành cho Tử được bao nhiêu? Được đến bao giờ? Cuộc đời NGOÀI KIA vẫn thắm sắc và vẫn cách Ở ĐÂY bằng một tầm tuyệt vọng, vẫn “cách xa nghìn thế giới”. Tồn tại ở nơi này sao quá đỗi mong manh? Chỉ có cái Tình kia là sợi dây duy nhất níu buộc Tử với TRẦN GIAN. Thế mà xem ra cái Tình ấy cũng mong manh làm sao?

Thế đấy, tôi đã khá dài dòng khi hành hương về Vĩ Dạ, đã đi theo cái đường dây mỏng manh và bí mật của tình yêu tuyệt vọng chìm khuất và xuyên qua toàn bộ thế giới thơ Vĩ Dạ, những mong chia sẻ được đôi phần. Còn biết làm sao khác được, nếu như không muốn ở thế giới bên kia Tử lại tuyệt vọng thêm lần nữa?

CHU VĂN SƠN

TƯ LIỆU THAM KHẢO

“Thơ Hàn Mặc Tử thường có những bước nhảy về ý. Ý nọ cách ý kia một khoảng rất lớn, có lúc ngỡ như không liên hệ gì với nhau, thoáng nhìn bài thơ có cái vẽ đầu Ngô mình Sở thế nào ấy, nhất là ở các tập thơ cuối đời ông. Nhưng, nét đặc sắc ở Hàn Mặc Tử cũng lại là ở đấy: những ý thơ rất xa nhau về ý nghĩa hóa ra lại vẫn có chỗ liền nhau, ấy là ở cái trạng thái xúc cảm. Mà trạng thái xúc cảm của Hàn Mặc Tử thì càng về cuối đời càng kì lạ, độc đáo. Nắm được đặc điểm này là có được chìa khóa mở vào thế giới Thơ điên của Hàn Mặc Tử.

(…)

Bốn câu đoạn hai không có liên hệ gì về chi tiết với đoạn một, cả vườn và gương mặt chữ điền kia không hề được nhắc lại. Cảnh hoàn toàn khác:

Gió theo lối gió, mây đường mây

Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Nhưng cái tâm trạng thì vẫn một: xa cách, ngóng đợi, vắng vẻ. Không thấy bóng người, chỉ thấy một tâm trạng không còn chỉ là tình quê nữa. Nếu sông nước, hoa bắp, thuyền đỗ bến có là cảnh của thôn Vĩ thì cũng chỉ để gợi một nỗi niềm man mác vắng xa nào đó, mà tác giả thấy chúng cần phải nói rõ. Câu cuối đoạn “Có chở trăng về kịp tối nay?” là câu thơ của cõi mộng. Tác giả, đến đây, không nhìn ra cảnh nữa mà quay vào lòng mình. Đến đoạn cuối ta thấy rất rõ: tác giả lặng đi trong mơ tưởng.

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Người khách này hình như không liên quan gì đến cái nhân vật được gọi là “anh” ở câu thứ nhất “Sao anh không về…” mà lại gợi ta nghĩ tới một khách… má hồng, một người thoáng gặp mà nhớ mãi. Đọc đến câu dưới lại càng rõ “Áo em trắng quá nhìn không ra”. Màu trắng ở đây cũng là màu trắng của tâm tưởng, tác giả nhìn lại vào tâm tưởng để thấy cái màu áo của kí ức cho nên nó hư hư thực thực. Câu thơ tạo ảo giác rất thích, có lí và bất ngờ: trắng quá nên nhìn không ra. Thôn Vĩ đến đây chỉ giữ vai trò một địa điểm có liên quan tới màu áo ấy. Màu áo bây giờ choán hết cảm xúc tác giả. Bài thơ miêu tả cảnh quê đã thành bài thơ của tình yêu. Một thứ tình yêu đơn phương khó xác định:

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

Ai biết tình ai có đậm đà?

Câu thơ đã dẫn ta đến một cõi nào của tâm tưởng, không còn là cái thôn Vĩ Dạ ngoài cố đô Huế nữa rồi. Sương khói làm mờ nhân ảnh không phải là sương khói của ngoài đời, của cái thôn nhỏ ấy đâu: “Ở đây” là ở trong mối tình mới nhen nơi lòng tác giả, là cái khoảnh khắc người đang đắm đuối nhìn không ra ấy. Ý thơ chơi vơi, gợi mở, cảm được mà rất khó cắt nghĩa”.

(VŨ QUẦN PHƯƠNG. Thơ với lời bình.
NXB Giáo dục, H, 1987, tr.40– 42)

“Đọc thơ Hàn Mặc Tử nhiều khi như xem tranh đồng hiện: sự vật, sự thế ở những thời gian không gian xa cách nhau đồng loạt xuất hiện và xâm nhập lẫn nhau không quan tâm luận lí – tính luận lí ở đây chỉ tồn tại trong tinh thần “toàn khối dòng tâm tưởng”. Đọc Hàn Mặc Tử, người ta cũng dễ liên tưởng đến thơ Lamactin: thứ thơ vừa lãng mạn vừa chứa đựng mầm mống của chủ nghĩa tượng trưng, nhiều lúc ngẫu phát: cõi lòng nhà thơ có khi như chìm đắm vào một cõi mù sương, bởi vậy, cảnh trí ngoại giới được tái hiện chỉ có tính chất như những âm thanh của tâm hồn phản hưởng “khi va chạm với sự vật” – đó là kiểu thơ “phong cảnh nội tâm”… Tương tự như vậy: “Mơ khách đường xa, khách đường xa” là ai mơ? Theo mạch thơ và dựa vào ý tứ trong nội dung thư Hoàng Cúc gửi Hàn Mặc Tử, ngồi mơ hẳn đang sống ở Vĩ Dạ, nhưng cũng không loại trừ ý nghĩa là chủ thể lãng mạn cùng mơ theo… Và rồi: “Áo em trắng quá” (màu áo trắng trong bức ảnh Hoàng Cúc gửi Hàn Mặc Tử?), có nghĩa: tâm hồn em thánh thiện quá, hạnh phúc đến đột ngột quá…, ta say men sắc màu trinh trắng đến choáng váng “nhìn không ra”? Hay chỉ hàm nghĩa là: những nét chữ từ thôn Vĩ gửi về Quy Nhơn đã làm thức dậy hình bóng xa xôi một nữ sinh Đồng Khánh thuở nào”.

(VĂN TÂM. Giảng văn văn học Việt Nam,
NXB Giáo dục, H, 1997, tr.338)
 

DiễnđànKiếnthức .COM

  • Diễn đàn Cryptocoin & Đời sống cập nhật, chia sẻ kiến thức Blockchain và các dự án Cryptocoin thú vị, không cung cấp bất kỳ lời khuyên đầu tư nào. .
Chat
Đăng nhập để sử dụng ChatBox
  1. No shouts have been posted yet.

Trang cá nhân

Uptrend 2022
BTC đã tạo đáy xong chưa nhỉ? ~34k là đáy 2, và cao hơn đáy 1 hồi tháng 5 năm 2021?

Bitcoin là một dạng tiền ảo khá phổ biến trên thế giới. Làm sao để kiếm được đồng Bitcoin?​


Bitcoin là gì?

Bitcoin

Thành viên trực tuyến

Không có thành viên trực tuyến.
Top