Chia sẻ kiến thức - Tin tức Idols

Luồng tin

Mỹ Tâm được yêu thích nhất Việt Nam 2020

Mỹ Tâm được yêu thích nhất Việt Nam 2020
MỸ TÂM TOP NHÂN VẬT ĐƯỢC NGƯỠNG MỘ NHẤT TẠI VIỆT NAM TRONG NĂM 2020. Theo kết quả từ trang YouGov- 1 tổ chức nghiên cứu thị trường quốc tế (Anh) cho thấy Mỹ Tâm, Taylor Swift và Phi Nhung là 3 nữ...
Dream 18 134 Lượt xem

Camila Cabello ủng hộ người tình Shawn Mendes khi anh ấy thông báo chi tiết về album mới

Camila Cabello ủng hộ người tình Shawn Mendes khi anh ấy thông báo chi tiết về album mới
"Thật là một món quà tuyệt đẹp cho thế giới", Cabello viết về dự án âm nhạc mới của Mendes. Shawn Mendes có thể tin tưởng vào bạn gái Camila Cabello để hỗ trợ anh khi anh tung ra bản nhạc mới...
Serena Huynh 113 Lượt xem

Nàng Rose "Titanic" tái hợp đạo diễn James Cameron trong các phần tiếp theo của bom tấn "Avatar"

Nàng Rose "Titanic" tái hợp đạo diễn James Cameron trong các phần tiếp theo của bom tấn "Avatar"
Mới đây, nữ diễn viên Kate Winslet đã chính thức xác nhận mình sẽ tham gia vào bom tấn "Avatar". Lịch ra mắt của các phần phim Avatar như sau: Avatar 2: 18/12/2020, Avatar 3...
Serena Huynh 164 Lượt xem

Tổng thống Mỹ Donald Trump nhiễm Covid - 19 sẽ điều trị ở đâu?

Tổng thống Mỹ Donald Trump nhiễm Covid - 19 sẽ điều trị ở đâu?
Tổng thống Mỹ Donald Trump nhiễm CoVid19 và đã được đưa đến Trung tâm y tế Walter Reed vào tối thứ sáu, ngày 02/10/2020 sau khi ông có kết quả xét nghiệm dương tính với COVID-19 vào sáng sớm cùng...
Serena Huynh 140 Lượt xem

Ôn tập ngữ văn lớp 9, tổng hợp các đề thi thường gặp giúp sĩ tử ôn tập nhanh nhất

Ôn tập ngữ văn lớp 9, tổng hợp các đề thi thường gặp giúp sĩ tử ôn tập nhanh nhất
Để giúp các bạn học tập tốt hơn khi ở nhà mùa dịch dưới đây mình xin chia sẻ các đề trắc nghiệm ngữ văn 9. Chúc các bạn học tốt! Mục lục: Đề 1: Phong cách Hồ Chí MInh Đề 2: Các phương châm hội...
Khánh Đăng 781 Lượt xem

Các trường đại học được giao quyền tự chủ tuyển sinh

Các trường đại học được giao quyền tự chủ tuyển sinh
Năm học 2019 - 2020 là năm học khó quên đối với học sinh các cấp đặc biệt là đối với học sinh THPT với những đề xuất mới của Bộ GD_ĐT. Ảnh: Sưu tầm Theo Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phùng Xuân Nhạ...
tieuthuyet0202 276 Lượt xem

Vẫn thi THPT quốc gia vào tháng 8 ?

Vẫn thi THPT quốc gia vào tháng 8 ?
Theo lãnh đạo Bộ GD-ĐT, kỳ thi THPT quốc gia năm 2020 vẫn sẽ diễn ra như dự kiến nếu học sinh có thể trở lại trường trước ngày 15/6. Thông tin tại buổi giao ban báo chí của Ban Tuyên giáo Trung...
D2KT 218 Lượt xem

Bài tập trắc nghiệm và tự luận - Ngữ văn lớp 6

Bài tập trắc nghiệm và tự luận - Ngữ văn lớp 6
Xin chia sẻ đến bạn đọc đề cương ôn tập ngữ văn năm học 2020. Đề cương gồm các đề trắc nghiệm và tự luận. Hi vọng sẽ giúp các bạn học tập tốt trong thời gian nghỉ dịch kéo dài này. Ảnh quê...
Khánh Đăng 2,012 Lượt xem

Kĩ năng học trực tuyến hiệu quả nhất năm học 2020

Kĩ năng học trực tuyến hiệu quả nhất năm học 2020
Yếu tố quan trọng đầu tiên của việc học tập trực tuyến là sự tự giác. Nếu bạn là một người bị động trong việc học tập, luôn cần sự hối thúc để khiến mình phải cầm bút, cầm vở thì bạn đã tự thua...
D2KT 659 Lượt xem

Lịch sử ngành kĩ thuật ảnh cho đến máy ảnh kĩ thuật số, máy ảnh trên điện thoại

Lịch sử ngành kĩ thuật ảnh cho đến máy ảnh kĩ thuật số, máy ảnh trên điện thoại
Máy ảnh đầu tiên ra đời thế kỷ thứ 11 song hiện nay loài người vẫn chưa thống nhất được mốc thời gian cụ thể năm nào. Và kể từ khi ra đời đến nay, ngành chụp ảnh đã thể hiện một vị trí và vai trò...
D2KT 331 Lượt xem

Nội dung ôn tập trực tuyến môn ngữ văn 9, học kì 2 năm học 2019/2020, phòng dịch Corona

Nội dung ôn tập trực tuyến môn ngữ văn 9, học kì 2 năm học 2019/2020, phòng dịch Corona
NỘI DUNG ÔN TẬP NGỮ VĂN 9 được DIỄN ĐÀN KIẾN THỨC biên soạn nhằm giúp các em hệ thống kiến thức và luyện tập các đề thi từ dễ đến khó. Luyện tập tốt các đề này sẽ nắm chắc kiến thức thi vào 10...
Baivanhay 516 Lượt xem

Vũ Hán ở đâu?

Vũ Hán ở đâu?
Vũ Hán là thành phố trung tâm của tỉnh Hồ Bắc, thành phố đông dân nhất ở miền Trung Trung Quốc. Thành phố nằm ở ngã ba sông Dương Tử và sông Hán, là trung tâm vận tải chính với hàng loạt tuyến...
songngu 402 Lượt xem

Tìm hiểu về Gregor Mendel

Tìm hiểu về Gregor Mendel
Gregor Mendel Gregor Mendel sinh năm 1822, lớn lên ở trang trại của cha mình tại một tỉnh của Austria (Áo). Vì gia đình nghèo nên ông phải vào tu viện để tiếp tục việc học của mình. Trong...
Trang Dimple 642 Lượt xem

Nghệ thuật làm kẹo tò he đẹp không nỡ ăn của người Nhật

Nghệ thuật làm kẹo tò he đẹp không nỡ ăn của người Nhật
Amezaiku có nghĩa là ''kẹo mút được chế biến một cách công phu'', nó rất phổ biến trong các lễ hội văn hóa từ thời Edo. Đến nay Amezaiku không chỉ là một loại kẹo nữa mà đã biến thành bộ môn nghệ...
Trang Dimple 1,091 Lượt xem

Hệ thống Diễn Đàn Kiến Thức mở rộng

Hệ thống Diễn Đàn Kiến Thức mở rộng
DiendanKienthuc xin thông báo DiendanKienthuc.com (tiền thân là .net) bước qua tuổi thứ 8 là nhờ công sức của Admin Butchi và tất cả các bạn. Diễn đàn đã ươm mầm thành công cho rất nhiều thành...
BNN Group 813 Lượt xem

Ba đại dương lớn nhất hành tinh

Ba đại dương lớn nhất hành tinh
Thái bình dương (180 triệu km2, Đại tây dương (106 triệu km2) Ấn độ dương (75 triệu km2) Thái Bình Dương là đại dương lớn nhất trên Trái Đất, nó trải dài từ Bắc Băng Dương ở phía bắc đến Nam Băng...
Chien Tong 823 Lượt xem

Đôi khi,chúng ta cần một khoảng lặng

Đôi khi,chúng ta cần một khoảng lặng
Cuộc sống là một chân trời đa màu sắc.Những cảm xúc lẫn lộn luôn tồn tại giữa bộn bề cuộc sống như không có điểm dừng.Đa màu,đa sắc là thế,con người chúng ta liệu mấy ai quan tâm đến cái cục diện...
npteen 892 Lượt xem

Làm sao để chèn ảnh từ máy tính vào bài viêt trên diễn đàn kiến thức ?

Làm sao để chèn ảnh từ máy tính vào bài viêt trên diễn đàn kiến thức ?
Em tham gia Diễn đàn Kiến thức đã lâu song chưa biết cách chèn ảnh trên diễn đàn. Các Mod hãy hướng dẫn chi tiết giúp em với nhé! Cảm ơn! ---- Sau khi đăng nhập vào diễn đàn, bạn đến khung soạn...
daico1998 1,918 Lượt xem

Giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện "Vợ chồng A Phủ" qua hai nhân vật Mị và A Phủ

Giá trị hiện thực và nhân đạo của truyện "Vợ chồng A Phủ" qua hai nhân vật Mị và A Phủ
Nếu như tác phẩm Dế mèn phiêu lưu kí của Tô Hoài mang một giọng hồn nhiên trong sáng thì tác phẩm Vợ chồng A Phủ của ông mang lại màu sắc dân tộc đậm đà, chất thơ chất trữ tình thấm đượm. Qua tác...
hoangphuong 22,127 Lượt xem

People are discussing about...

Thandieu2
Thandieu2

Thuốc - (nội dung, tóm tắt)

Nội dung chính "Thuốc" của Lỗ Tấn Truyện ngắn “Thuốc” được Lỗ Tấn viết năm 1919, đúng lúc cuộc vận động ngũ tứ bùng nổ. Do sự xâm lược và chia cắt của các nước đế quốc (Nhật, Nga , Anh , Pháp, Đức ) đã biến TQ thành một nước nửa phong...
Thuốc - (nội dung, tóm tắt)
Thandieu2
Tóm tắt truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn.

Tóm tắt truyện ngắn Thuốc của Lỗ Tấn.

Vợ chồng lão Hoa Thuyên, chủ một quán trà nghèo, có đứa con trai duy nhất là bé Thuyên bị bệnh ho lao. Nhờ người mách giúp, một đêm thu gần về sáng, lão tìm tới cai ngục, mua bánh bao tẩm máu của tử tù đem về cho con trai ăn, hi vọng con sẽ khỏi bệnh nhưng sau đó bé Thuyên đã chết.
Sáng hôm ấy, tại quán trà, tên đao phủ Cả Khang và mọi người bàn luận về công hiệu của thứ thuốc đặc biệt kia và về Hạ Du, người chiến sĩ cách mạng kiên cường vừa mới hi sinh nhưng không ai hiểu anh, còn cho anh là giặc, là kẻ làm loạn, là điên.

Năm sau, một buổi sáng mùa xuân, trong tiết Thanh minh, mẹ của Hạ Du và bà Hoa Thuyên cùng đến nghĩa trang viếng mộ con. Hai bà mẹ có mối đồng cảm với nhau. Họ ngạc nhiên khi thấy trên mộ Hạ Du “rõ ràng có một vòng hoa, hoa trắng hoa hồng xen lẫn nhau”, người mẹ đã hiểu ra được việc làm cao đẹp của con mình.
Butchi
Đề 9: Tóm tắt truyện Thuốc – Lỗ Tấn.

HƯỚNG DẪN

Thuốc được đăng trên tạp chí Tân Thanh niên số tháng 5/1919, sau đó in trong tập Gào thét xuất bẳn năm 1923.

Vợ chồng lão Hoa Thuyên – chủ quán trà có con trai bị bệnh lao (căn bệnh nan y thời bấy giờ). Nhờ người giúp, lão Hoa Thuyên đi tìm mua chiếc bánh bao tẩm máu người tử tù về cho con ăn, vì cho rằng như thế sẽ khỏi bệnh. Lão Thuyên dành dụm tiền mua bánh bao tẩm máu người tử tù về cho con ăn.

Sáng hôm sau, trong quán trà mọi người bàn tán về cái chết của người tử tù vừa bị chém chết sáng nay. Đó là Hạ Du, một nhà cách mạng kiên cường, nhưng chẳng ai hiểu gì về anh, nhiều người cho rằng anh bị điên. Thế rồi, thằng Thuyên cũng chết vì chiếc bánh bao ấy không trị được bệnh lao.

Năm sau vào tiết Thanh minh, mẹ Hạ Du và bà Hoa Thuyên đến bãi tha ma viếng mộ con. Gặp nhau, hai người mẹ đau khổ có sự đồng cảm với nhau. Họ rất ngạc nhiên khi thấy trên mộ Hạ Du xuất hiện vòng hoa trắng hồng xen lẫn nhau. Đây là điểm sáng để kết thúc câu chuyện bi thảm, bày tỏ quyết tâm tiếp bước người đã khuất.

Nội dung tác phẩm: Phản ánh sự u mê của nhân dân Trung Quốc trước cách mạng Tân Hợi, sự lạc hậu về chính trị của quần chúng đối với người làm cách mạng và bi kịch của người cách mạng tiên phong của Hạ Du.
O
Thuốc – Lỗ Tấn – Ngữ văn lớp 12
Thuốc được công bố lần đầu vào tháng 4 - 1919, chỉ một tháng trước khi bùng nổ phong trào Ngũ Tứ, sự kiện mở đầu cho lịch sử Trung Quốc hiện đại.

Tác giả

Lỗ Tấn (1881 – 1936) tên khai sinh là Chu Thụ Nhân, quê ở huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Ông là nhà văn cách mạng nổi tiếng của văn đàn Trung Quốc thế kỉ XX. Thời tuổi trẻ Lỗ Tấn nhiều lần đối nghề vì nhân đạo và khát vọng đổi mới đất nước: Lúc đầu học nghề hàng hải với ước mong mở rộng tầm mắt, sau đó chuyển sang nghề khai mỏ với ý nguyện làm giàu cho quê hương. Nhờ học giỏi, ông được sang Nhật học, ông chọn ngành y với mong muôn chữa bệnh cho người nghèo. Cuối cùng ông nhận ra chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần cho quốc dân nên ông chuyển sang hoạt động văn học. Sáng tác của Lỗ Tấn xoay quanh chủ đề “phê phán quốc dân tính”. Ông chủ trương dùng ngòi bút phanh phui các “căn bệnh tinh thần” của quốc dân, lưu ý tìm phương thuốc chạy chữa.

Tác phẩm
a) Hoàn cảnh sáng tác
Thuốc được công bố lần đầu vào tháng 4 – 1919, chỉ một tháng trước khi bùng nổ phong trào Ngũ Tứ, sự kiện mở đầu cho lịch sử Trung Quốc hiện đại. Để hiểu thêm ý nghĩa tác phẩm, cần hiểu lịch sử Trung Quốc nửa cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. Lúc đó Trung Quốc được xem là “con bệnh trầm, trọng”. Sự xâu xé, xâm lấn của nhiều đế quốc đã biến Trung Quốc từ một nước phong kiến tự chủ thành một nước nửa phong kiến, nửa thuộc địa. Đa sô’ nhân dân Trung Quốc “đang ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”, một bộ phận nhân dân đứng dậy làm cách mạng nhưng thất bại. Truyện Thuốc ra đời, nhà văn muôn tìm phương thuốc mới chữa bệnh ngu muội, đớn hèn của dân tộc.

b) Tóm tắt tác phẩm
Vợ chồng Hoa Thuyên, chủ quán trà, có con trai bị ho lao. Nhờ người giúp, lão tìm tới cai ngục mua bánh bao chấm máu của tử tù mang về nướng cho con ăn, mong nó khỏi bệnh. Khi thằng con ăn bánh bao thì trong quán trà người ta bàn tán công hiệu của “thứ thuốc đặc biệt” rồi chuyến sang bàn tán về người tử tù mới bị chém. Chủ yếu họ nói về những người được lợi quanh cái chết của tử tù Hạ Du, họ không hiểu cách mạng, cho rằng Hạ Du là điên.
Thằng con ông bà Hoa Thuyên cuối cùng đã chết. Mộ nó gần mộ Hạ Du. Nghĩa địa người chết chém và nghĩa địa người nghèo phân định bằng một con đường mòn nhỏ. Tiết thanh minh, hai người mẹ đi viếng mộ con. Họ bắt đầu có sự đồng cảm nỗi đau của những người mẹ mất con. Họ cùng ngạc nhiên khi thấy trên mộ Hạ Du có một vòng hoa.

c) Chủ đề
– Qua chiếc bánh bao tẩm máu người và cái chết của con trai bà Hoa Thuyên tác giả phê phán tập quán chữa bệnh hết sức u mê, lạc hậu của nhân dân Trung Quốc và nói rằng cần phải có một thứ thuốc chữa bệnh khoa học.
– Qua cái chết đầy bi kịch fủa người chiến sĩ cách mạng Hạ Du, tác giả cho thấy cần phải có một thứ thuốc mới chữa bệnh tinh thần cho toàn xã hội.
– Chủ đề thứ hai mới là điều nhà văn muôn nói với người đọc.

HƯỚNG DẪN HỌC BÀI
Tìm tiêu đề cho từng phần của câu chuyện.
– Phần 1: Ông Hoa Thuyên đi mua chiếc bánh bao tẩm máu người trị bệnh lao cho con trai.
– Phần 2: Bà Hoa Thuyên nướng chiếc bánh bao mới mua được cho con trai ăn, hi vọng con sẽ khỏi bệnh.
– Phần 3: Trong quán trà ông Thuyên, mọi người bàn về công hiệu của bánh bao trị bệnh lao và bàn tán về cái chết của Hạ Du.
– Phần 4: Tại nghĩa địa, bà Hoa đi thăm mộ thằng Thuyên, bà mẹ Hạ Du cũng đi thăm mộ con. Bà Hoa bước qua con đường mòn ngăn cách hai nghĩa địa đến an ủi mẹ Hạ Du. Họ ngạc nhiên khi thấy vòng hoa trên mộ Hạ Du.
Hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người nối kết các chi tiết của tác phẩm, làm nổi bật chủ đề.
Chiếc bánh bao tẩm máu chữa bệnh lao, kết quả thêm một ngôi mộ của thằng bé Thuyên trong nghĩa địa. Chiếc bánh bao ấy rõ ràng không phải là thứ thuốc mà bệnh nhân lao cần tìm. Mặt khác chiếc bánh bao đó không phải tẩm máu của bất kì kẻ tội phạm nào mà nó tẩm máu của người chiến sĩ cách mạng, điều đó càng làm nổi bật bi kịch của người cách mạng xa rời quần chúng và sự thờ ơ, chẳng biết gì về ý nghĩa của cách mạng trong nhân dân.
Chủ đề bàn luận của những người trong quán trà của lão Hoa:

a) Bàn về công hiệu của “thứ thuốc đặc biệt” – Chiếc bánh bao tẩm máu người dùng để trị bệnh lao. Lão Cả Khang cam đoan nhiều lần “thế nào cũng khỏi”. Một người “râu hoa râm” cũng khẳng định theo “nhất định khỏi thôi mà”. Ông bà Hoa Thuyên cũng ấp ủ niềm hi vọng con sẽ khỏi sau khi dùng “thứ thuốc đặc biệt ấy” (nên tươi cười, cung kính bày tỏ lòng biết ơn với lão Cả Khang, người cho họ “biết tin sớm”).
Lưu ý nghệ thuật kể chuyện của tác giả: trong khi mọi người bàn tán “oang oang” về công hiệu của thuốc thì thằng bé Thuyên vẫn “ho”, “ho lấy ho để” “ho cố mạng”. Sự tương phản ấy ngầm ý nói đó không phải là thứ thuốc đặc biệt mà là thuốc độc đang từ từ làm cho bệnh thằng bé ngày càng nặng thêm.
– Từ những lời bàn luận đó, tác giả cho thấy niềm tin hết sức mê muội, mù quáng của nhân dân vào cách chữa bệnh cực kì lạc hậu, phản khoa học.

Bàn về Hạ Du – người chiến sĩ cách mạng bị xử chém. Qua những lời bàn ấy, ta thấy:
– Bộ mặt tàn bạo, thô bỉ của lão Cả Khang: Lão cho rằng có người chết chém để mua được bánh bao tẩm máu trị bệnh lao như lão Hoa là “may phúc” (từ này lặp lại nhiều lần). Lão rất cao hứng, thích thú về việc này nên cứ “riói oang oang”. Lão thấy thiệt vì chẳng kiếm chác được gì từ cái chết của Hạ Du, lão ganh với cụ Ba – người được hai mươi lạng bạc vì có công tô’ giác cháu Hạ Du. Lão coi Hạ Du là “thằng nhãi con”, “thằng khốn nạn”.
– Bộ mặt lạc hậu của nhân dân Trung Quốc: Họ không phân biệt được phải trái, trắng đen. Họ ngồi “vểnh tai nghe”, “lấy làm thích thú” khi lão Cả Khang kể chuyện Hạ Du bị xử chém, không có một chút tình thương đồng loại (trong khi ai cũng biết Hạ Du là con bà Tứ – cùng một cộng đồng). Với đám đông dân chúng, Hạ Du chỉ là một đối tượng để họ đàm tiếu. Họ chẳng hiểu cách mạng là gì cả. Thậm chí người ta còn cho hành động của Hạ Du là “giặc”, việc Hạ Du tuyên truyền khẩu hiệu cách mạng cho lão Nghĩa là “điên”. Cụ Ba không hiểu cách mạng nên tố giác cháu để lĩnh thưởng, mẹ Hạ Du cảm thấy “xấu hổ” khi đi thăm mộ con.
Hạ Du làm cách mạng, xả thân vì nghĩa lớn, vì sự nghiệp giải phóng nhân dân trong đó có những người như ông bà Hoa, ông Ba, lão Cả Khang… nhưng họ lại dửng dưng trước cái chết của Hạ Du một cách đáng phê phán. Lỗ Tấn muôn nói rằng: phải có một phương thuốc làm cho quần chúng giác ngộ cách mạng.
– Hình ảnh Hạ Du hiện lên qua lời hàn tán
+ Đó là một người chiến sĩ cách mạng có phẩm chất cao đẹp. Lý tưởng cách mạng rất rõ ràng: lật đổ ngai vàng, đưa đất nước Trung Quốc về với nhân dân Trung Quốc. Một người dũng cảm, hiên ngang, xả thân vì nghĩa lớn (chấp nhận chết chém vì cách mạng), dũng cảm tuyên truyền lí tưởng cách mạng với cả người cai ngục trong những ngày chờ lên máy chém. Hạ Du là hình ảnh người chiến sĩ “đi trước buổi bỉnh minh”, là người thức dậy sớm khi quần chúng còn mê ngủ “trong cái nhà hộp bằng sắt”. Tác giả bày tỏ sự trân trọng, kính phục đốì với nhân cách của người cách mạng như Hạ Du.
+ Một người chiến sĩ cách mạng xa rời quần chúng. Lý tưởng, hành động cách mạng cao đẹp của anh không ai biết, ngay đến người thân cũng không hiểu nên không bảo vệ anh, mẹ anh gào khóc kêu anh chết oan, xấu hổ khi đi thăm mộ con bị người khác nhìn thấy. Anh chết trong cô đơn. Một cái chết kiêu hùng nhưng không có ai tôn vinh.
Tác giả lại đặt ra vấn đề: phải làm sao cho cách mạng gắn bó với quần chúng, tìm được sự ủng hộ, bảo vệ của quần chúng.
Không gian nghệ thuật là tù hãm, bế tắc nhưng thời gian nghệ thuật lại có tiến triển:
– Không gian nghệ thuật là một pháp trường vắng vẻ, một quán trà nghèo nàn, một bãi tha ma dày khít mộ. Không gian dung dị, giàu chất hiện thực nhưng hết sức trầm lắng, bế tắc.
– Thời gian nghệ thuật có sự tiến triển: mở đầu tác phẩm là cảnh mùa thu, mùa của lá vàng rơi, cũng là mùa trảm quyết của tử tù. Cảnh cuối tác phẩm là mùa xuân năm sau, mùa của sự đâm chồi nảy lộc.
Cái chết của hai người con, một chết chém, một chết bệnh, những cái chết đau đớn có ý nghĩa thức tỉnh cho người sông.
* Hình ảnh vòng hoa trên ngôi mộ Hạ Du thể hiện niềm tin tưởng lạc quan của tác giả: tương lai quần chúng sẽ hiểu hành động của những người như Hạ Du, vòng hoa hứa hẹn một sự tiếp bước theo người cách mạng. Không khí của truyện rất u buồn, tăm tối nhưng hình ảnh vòng hoa kết thúc tác phẩm lại mở ra một niềm tin tươi sáng.

LUYỆN TẬP
Hình ảnh nghĩa địa những người chết chém, chết tù và nghĩa địa những người nghèo, hình ảnh hai bà mẹ bất hạnh ở nghĩa địa có ý nghĩa gì?
* Gợi ý:
– Con đường mòn là biểu tượng của sự chia cắt, tách biệt, đôi lập, đó cũng là con đường mòn ăn sâu trong ý thức của con người: Nghĩa địa người chết chém, chết tù (người phản nghịch, người cách mạng) tách biệt với nghĩa địa người nghèo (nhân dân lao động). Không có sự hiểu biết cảm thông.
– Cả hai bà mẹ đều bất hạnh, mất con, không hiểu con mình chết vì sao nhưng giữa họ đã có sự đồng cảm. Bà Hoa đã bước sang bên kia đường mòn để an ủi mẹ Hạ Du.
– Hình ảnh hai bà mẹ đến với nhau cuối tác phẩm phần nào thể hiện niềm tin của tác giả vào sự đoàn kết của nhân dân, sự thấu hiểu của nhân dân đối với người cách mạng.
Trang Dimple
Trang Dimple

Bài văn đạt giải quốc gia Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải ánh trăng lừa dối

Trong truyện ngắn Trăng sáng, Nam Cao viết: “Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…”và ở truyện ngắn Đời thừa ông cho...
Bài văn đạt giải quốc gia Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải ánh trăng lừa dối
Đ
Cuộc sống xung quanh ta không bao giờ phẳng lặng mà luôn sôi động. Cũng như mặt biển nhiều lúc êm ả và thanh thản nhưng trong lòng nó luôn có những đợt sóng ngầm. Là một hình thái ý thức xã hội, văn học nghệ thuật bám chặt lấy sự sống để lớn lên và với tư cách là đứa con tinh thần, nó lại trở về noi sinh ra nó để góp phần khám phá, hiểu biết và sáng tạo đời sống. Nghĩ về văn học và hiện thực đời sống, trong truyện ngắn Trăng sáng, Nam Cao viết: “Chao ôi! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp lầm than…”Khi đáp lời báo Ngày nay của Tự lực văn đoàn, Vũ Trọng Phụng đã nói: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. tôi và các nhà văn cùng chí hướng nhưng tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời”. Và ở tác phẩm Đời thừa, Nam Cao cho rằng: Một tác phẩm có giá trị khi tác phẩm ấy “chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn, lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình…Nó làm cho người gần người hơn”.
Hay hay
O
Khiếp, cái bài ánh trăng lừa dối này đã tốn biết bao nhiêu giấy mực
Trang Dimple
Trang Dimple

Bài văn đạt giải quốc gia“Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”

ĐỀ. Bàn về thơ, nhà phê bình văn học Nga Bêlinxki đã viết: “Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật” Anh (chị ) hãy bình luận ý kiến trên. Bài làm Những vần thơ Andersen, những vần thơ ngân...
Bài văn đạt  giải quốc gia“Thơ trước hết là cuộc đời, sau đó mới là nghệ thuật”
Đ
Cuộc sống mên mông và kì diệu làm sao ! Cuộc sống là nơi cung cấp chất liệu cho thơ. Thơ ca bắt nguồn từ cuộc sống, cho nên thơ bao giờ cũng chứa đựng bóng hình cuộc sống, bóng hình con người. Thơ ca là nơi con người gửi gắm tâm tình, ước mơ, khát vọng, những băn khoăn, rạo rực, ưu tư. Thơ ca không thể tách rời cuộc đời. Cuộc đời ban truyền nguồn nhựa sống mãnh liệt cho thơ và thơ nở hoa làm đẹp cuộc đời, cống hiến cho con người những phút giây tuyệt vời lắng đọng nhiều nỗi suy tư. đến với thơ, người đọc trước hết sẽ bắt gặp tâm tư, nỗi lòng của người cầm bút, sau đó sẽ gặp chính tâm tư của mình bởi thơ là “tiếng nói đồng ý, đồng tình, đồng chí”. Cùng với văn chương, thơ ca trở nên những nhịp cầu vô hình dẫn dắt những tâm hồn đến với tâm hồn., những trái tim đến với trái tim để con người cùng sẻ niềm vui, nỗi buồn, ước mơ, hi vọng.
tâm hồn cuộc sống
O
HS nên được tiếp xúc với nhiều thơ văn ngước ngoài hơn
Trang Dimple
Trang Dimple

Bài văn đạt giải nhất quốc gia năm 1988 (Bảng A)

Đề bài Trong cuốn Trò chuyện với các bạn làm thơ trẻ, thi sĩ Xuân Diệu đã khẳng định: “Sáng tác thơ là một việc do cá nhân thi sĩ làm, một thứ sản xuất đặc biệt và cá thể. Anh phải đi sâu vào tâm hồn cá biệt của anh để nói cái to tát của xã...
Bài văn đạt giải nhất quốc gia năm 1988 (Bảng A)
Đ
“Sáng tác thơ là một việc do cá nhân thi sĩ làm, một thứ sản xuất đặc biệt và cá thể. Anh phải đi sâu vào tâm hồn cá biệt của anh để nói cái to tát của xã hội, cái tốt đẹp của chế độ, để tránh cái khô khan, nhạt nhẽo, anh phải có cá tính, anh phải trau dồi cái độc đáo mà công chúng rất đòi hỏi. Nhưng đồng thời, anh phải đấu tranh để cái việc tự sáng tạo ấy không trở thành anh hùng chủ nghĩa”.
Thơ là tiếng nói của tâm hồn
O
Thực ra các nhà thơ sáng tác thơ để thế hệ các em hs có thứ để phân tích :D
Trang Dimple
Trang Dimple

Bài văn đoạt giải nhì kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm 2000, Bảng A.

Bài văn đoạt giải nhì kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm 2000, Bảng A. Đề bài: Nhận xét về sáng tác của Thạch Lam, Nguyễn Tuân viết: "Xúc cảm của nhà văn Thạch Lam thường bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân cảm đối với những con người ở...
Bài văn đoạt giải nhì kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm 2000, Bảng A.
Đ
Giữa bộn bề phồn tạp buổi chợ phiên văn chương, giữa náo nhiệt đông đúc của gian hàng lãng mạn, Thạch Lam được nhật như một khách hàng đặc biệt. Con người của Tự lực văn đoàn ấy đã không đưa ta tới những chân trời phiêu du, mộng tưởng của những tình yêu, khát vọng thường thấy trong trời lãng mạn mà dắt ta đi vào giữa cõi đời ta đáng sống, con người dịu dàng nhân ái ấy đã nguyện gắn ngòi bút của mình với những kiếp người đau khổ, vẫn luôn trân trọng sự sống nơi trần gian. Nói như Nguyễn Tuân: "Xúc cảm của nhà văn Thạch Lam thường bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân cảm đối với những con người ở tầng lớp dân nghè. Thach Lam là một nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trước sự sống của mọi người xung quanh. Ngày nay đọc lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị mà nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm thất văn học".
Thach Lam là một nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trước sự sống của mọi người xung quanh
O
Tầng lớp dân nghè là gì mà sao bài lặp lại cụm này vậy
Trang Dimple
Trang Dimple

Bài văn đạt giải nhất kỳ thi học sinh giỏi quốc gia "Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật .."

Bài văn đạt giải nhất kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm 1999, bảng A Đề bài: "Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật trước hết là ở giái trị tư tưởng của nó. Nhưng là tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc của tình cảm, chứ không phải tư tưởng...
Bài văn đạt giải nhất kỳ thi học sinh giỏi quốc gia "Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật .."
Trang Dimple
Bài văn đạt giải nhất kỳ thi học sinh giỏi quốc gia năm 1999, bảng A
Đề bài: "Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật trước hết là ở giái trị tư tưởng của nó. Nhưng là tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc của tình cảm, chứ không phải tư tưởng nằm thẳng đơ trên trang giấy. Có thể nói, tình cảm của người viết là khâu đầu tiên và là khâu sau cùng trong quá trình xây dựng một tác phẩm nghệ thuật". (Theo Nguyễn Khải, Các nhà văn nói về văn, tập 1, NXB Tác phẩm mới, 1985, trang 61) Anh, chị hiểu như thế nào về ý kiến nêu trên? Hãy liên hệ với sáng tác của Xuân Diệu hoặc Tố Hữu để làm sáng tỏ vấn đề. (Đề thi học sinh giỏi quốc gia năm 1999, bảng A)

Bài Làm

Điều gì tạo nên giá trị của một tác phẩm nghệ thuật? Tư tưởng của nhà văn hay tình cảm nghệ sĩ? Câu hỏi đó đã làm hết thảy mọi người, không chỉ có chúng ta mà còn cả giới nghệ sĩ. Đã có nhiều cách bàn bạc và lý giải xung quanh vấn đề này. Ý kiến của
nhà văn Nguyễn Khải dưới đây, theo tôi cũng là một ý kiến đánh giá đầy đủ, chính xác và đánh ghi nhận: "Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật trước hết là ở giái trị tư tưởng của nó. Nhưng là tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc của tình cảm, chứ không phải tư tưởng nằm thẳng đơ trên trang giấy. Có thể nói, tình cảm của người viết là khâu đầu tiên và là khâu sau cùng trong quá trình xây dựng một tác phẩm nghệ thuật". Là một nhà văn đã lăn lộn nhiều với nghề viết, đã từng nếm trải và chịu đựng những quy luật nghiệt ngã của văn chương, hơn ai hết Nguyễn Khải ý thức sâu sắc những yêu cầu khắt khe của nghệ thuật. Ông hiểu giá trị của một tác phẩm nghệ thuật trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó. Nhà văn phải là người có tư tưởng. Nhưng bằng những sự trải nghiệm của một đời cầm bút, ông cũng thấm thiết nghệ thuật không phải chỉ là tư tưởng đơn thuần mà phải là tư tưởng được rung lên ở các cung bậc của tình cảm, nghĩa là tư tưởng ấy phải được thấm đẫm trong tình cảm của người viết, tư tưởng ấy phải được chuyển tải bằng tình cảm, cảm xúc của người nghệ sĩ. Nói cách khác, ý kiến của Nguyễn Khải đã khẳng định mỗi quan hệ gắn bó, không thể tách rời giữa tư tưởng và tình cảm của nhà văn. "Giá trị của một tác phẩm nghệ thuật trước hết là ở giá trị tư tưởng của nó". Câu nói hiển nhiên như một chân lý không thể phủ nhận. Một tác phẩm nghệ thuật có giá trị, trước hết phải đề xuất được một tư tưởng mới mẻ. Một nhà văn có tầm cỡ hay không, tôi nghĩ yêu cầu đầu tiên là nhà văn ấy phải là một nhà tư tưởng. Nghĩa là ông ta phải có phát hiện riêng của mình về chân lý đời sống, có những triết lý riêng của mình về nhân sinh. Bởi xét đến cùng, thiên chức cao cả của văn chương nghệ thuật là phản ánh con người và hướng tới phục vụ đời sống con người. Văn học là một hình thái ý thức tinh thần; bởi thế, nhà văn khi viết tác phẩm không thể không bộ lộ tư tưởng của riêng mình, chủ kiến của riêng mình trước những vấn đề của cuộc sống. Làm sao văn học có thể thực hiện được sứ mệnh thiêng liêng của mình là bồi đắp, làm giàu đời sống tinh thần của con người, nếu như người viết không gửi được vào tác phẩm của mình tư tưởng nào đó về cuộc sống? Mặt khác, bản chất của lao động nghệ thuật là sáng tạo.

Nghề văn phải là nghề sáng tạo. Mà tôi cho rắng sáng tạo khó khăn nhất, nhưng cũng vinh quang nhất của người nghệ sĩ, là khám phá, phát minh ra một hệ thống tư tưởng của riêng mình. Văn học đâu chấp nhận những sản phẩm nghệ thuật chung chung, quen nhàm, viết ra dưới ánh sáng của một khuôn mẫu tư tưởng nào đó. Nếu thế thì văn chương sẽ tẻ nhạt biết bao! Không, "Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biêt tìm tòi, biết khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa ai có" (Nam Cao). Một khi anh đề xuất được những tư tưởng mang tính khám phá về đời sống, tư tưởng ấy sẽ quyết định đến sự sáng tạo hình thức của tác phẩm. Chưa nói rằng, ở những nhà văn lớn, tư tưởng là yếu tố cốt lõi hình thành nên phong cách nghệ thuật, gương mặt riêng, dấu ấn riêng của nhà văn trong đời sống văn học vốn mênh mông phức tạp, vàng thau lẫn lộn này. Có thể khẳng định rằng, tư tưởng ấy là tố chất của một nhà nghệ sĩ lớn. Tuy nhiên, theo Nguyễn Khải, tư tưởng của nhà văn không phải là tư tưởng "nằm thẳng đơ trên trang giấy", mà là tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc của tình cảm"


Vấn đề đặt ra là tai sao tư tưởng lại phải chuyển tải bằng tình của người viết và tình của nhà văn sao lại là khâu đầu tiên và là khâu sau cùng trong quá trình xây dựng một tác phẩm nghệ thuật"? Có lẽ, xin được bắt đầu từ quy luật lớn của văn học nói riêng, nghệ thuật nói chung. C.Mac có lần nhấn mạnh: Nói quy luật của văn học là quy luật của cái đẹp. Người khác thì cụ thể hơn, khẳng định quy luật của cái đẹp là quy luật của tình cảm. Vậy tình cảm chứ không phải bất kỳ yếu tố gì khác mới là ngọn nguồn sâu xa của cái đẹp. Mỗi tác phẩm nghệ thuật đính thực phải hướng con người tới cái đẹp bằng tình cảm của nhà văn. Tác phẩm của anh phải lên tiếng, sự thăng hoa cảm xúc của chính anh. Không phải ngẫu nhiên mà khi bàn về thơ, nhiều nhà văn, nhiều học giả đều khẳng đinh vai trò của tình cảm đố với thơ. Ngô Thì Nhậm thì kêu gọi các thi nhân:" Hãy xúc động hồn thơ cho hồn bút có thần", còn Muytxê cũng nhắn nhủ các nhà thơ: "Hãy đập vào tim anh, Thiên tài là ở đó" Tư tưởng của một nhà văn dù dầu có giá trị đến đâu, độc đáo mới mẻ đến nhường nào thì nó cũng chỉ là một xác buớm ép khô trên trang giấy, nếu không được tình cảm của họ thổi hồn đánh thức dậy. Nếu anh chỉ có tư tưởng không thôi, thì không thể làm một tác phẩm có giá trị nghệ thuật đính thực. Tư tưởng của anh phải được rung lên ở các cung bậc của tình cảm. Cảm xúc trơ lì, mòn sáo, tình cảm thoáng qua, hời hợt, rút cuộc những tư tưởng ấy dù hay đến mấy cũng chỉ "nằm thẳng đơ", vô hồn, vô cảm trên trang giấy mà thôi. Những sáng tạo nghệ thuật chân chính tuyệt nhiên không phải là sự minh hoạ giản đơn cho tư tưởng này hay tư tưởng khác, cho dù đó là tư tưởng rất hay (Ý của Khrapchencô). Tư tưởng của nhà văn không khô khan, cứng nhắc, tư tưởng của nhà văn là tư tưởng nghệ thuật, là tình cảm, là "nhiệt hứng", là "say mê", là tất cả nhiệt tình kết tinh lại (Biêlixky) Có thể nói tình cảm của người viết chính là khâu đầu tiên của quá trình xây dựng tác phẩm nghệ thuật. Điều này có căn nguyên sâu xa từ đặc trưng của văn học. Văn học là tiếng nói tâm hồn, tình cảm của cá nhân người nghệ sĩ trước cuộc đời. Làm sao nhà văn có thể viết lên tác phẩm - sản phẩm của thế giới tinh thần của mình nếu như tâm hồn trơ như đá trước cuộc đời? Nhà văn chỉ có thể sáng tạo nên tác phẩm khi cảm thấy bức xúc trước cuộc sống con người, cảm thấy tiếng nói thôi thúc mãnh liệt con tim. Nhiều nghệ sĩ đã gọi đó là giây phút "bùng nổ cảm hứng" hay "cú hích của sáng tạo" là vì vậy. Không phải vô cớ mà Lê Quý Đôn cho rằng: "Thơ khởi phát từ trong lòng ta". Tố Hữu cũng tâm sự về quá trình thai nghén, sáng tạo thơ của mình. Mỗi khi trong lòng có gì băn khoăn, không viết ra không chịu nổi, ông lại làm thơ. Còn Nêkraxôp thì tâm tình với bạn văn rằng, tất cả nhứng gì khiến cho ông đau khổ, rạo rực, say mê, ông đều gửi vào thơ. Tôi chợt hiểu vì sao trong thư gửi một nhà thơ trẻ, để trả lời cho câu hỏi có nên làm thơ hay không, Renkle đã có một lời khuyên chân tình rằng, anh hãy đối diên với lòng mình vào đêm khuya thang vắng, để tự trả lới câu hỏi: Ta có thể không viết được không? Nếu không viết liệu ta có chết không? Chỉ khi nào trả lời được câ hỏi ấy, anh hãy viết. Điều đó nói lên rằng, tình cảm mãnh liệt - ấy chính là tố chất đặc thù của người nghệ sĩ, là khâu đầu tiên của quá trình sáng tạo nghệ thuật.

Không chỉ có vậy, tình cảm còn là khâu sau cùng trong quá trình xây dựng tác phẩm của nhà văn. Người đọc đến với tác phẩm trước hết đâu phải bằng con đường lí trí. Họ đến với tác phẩm bằng chiếc cầu nối từ trái tim đến với trái tim. Những tư tưởng tâm đắc nhất, tha thiết nhất nhà văn gửi gắm trong tác phẩm sẽ thâm nhập vào tâm hồn bạn đọc trong hình hài của cảm xúc. Mỗi khi đọc môt bài văn, bài thơ, lí trí của ta chưa kịp hiểu câu chữ, hình ảnh,... thì tình cảm đã xâm chiếm hồn ta tự khi nào, lòng ta chợt rung lên theo những rung cảm của tâm hồn của người nghệ sĩ, cũng chợt thấy yêu ghét theo những yêu ghét của người viết. Phải chăng,bởi thế, Bạch Cư Dị đã khẳng định: "Cảm động lòng người không gì bằng trước hết bằng tình cảm" và tình cảm là gốc của văn chương. Một tác phẩm có hay không xét cho cùng là do tình cảm của người viết có chân thực hay không, có khả năng đánh động tới tình cảm người đọc hay không. Tư tưởng nghệ thuật đâu phải một hình thái chết, nó là những phát hiện , những triết lý riêng của nhà văn, một thứ triết lý nhân sinh đầy tình cảm, cảm xúc, thấm đẫm bầu tâm huyết của người nghệ sĩ. Soi vào thực tế văn học, tôi chợt hiểu vì sao có những nhà văn suốt cả cuộc đời không tạo nên một tác phẩm có giá trị đích thực để rốt cuộc phải ngậm đắng, nuốt cay than thở cho sự bạc bẽo của nghề văn. Và vì sao lại có những nghệ sĩ lớn như Xuân Diệu sống mãi với thời gian. Dù dòng thời gian vẫn miệt mài chảy trôi, bao đời người dâu bể, bao thế kỷ thăng trầm, âm thầm cái công việc của nó là phủi bụi, xoá bỏ tất cả thì những gì là thơ, là văn, là nghệ thuật sẽ còn sống mãi trong đó có những vần thơ của Xuân Diệu. Xuân Diệu là một nhà thơ lớn. Và điều tạo lên tầm vóc của nhà thơ lớn ấy là bởi đâu, nếu không phải bởi tư tưởng của thi sĩ? Tôi không bao gì tin rằng một nhà văn có thể làm lên tên tuổi. Không, một nhà văn lớn, có những phát hiện riêng của mình về cuộc sống. Xuân Diêu đã đi đúng con đường mà những người nghệ sĩ lớn thường đi bởi ông đã đề xuất với cuộc đời này một tư tưởng, một quan niệm của riêng ông. Néu có thể tóm gọn toàn bộ tư tưởng ấy thì ta có thể đặt cho nó một cái tên là "niềm khát khao giao cảm với đời" Tư tưởng ấy đã góp phần làm cho sự nghiệp thơ văn Xuân Diệu trụ vững với thời gian. Giữa bao nhà thơ khác đang chán chường tuyệt vọng, trốn chạy vào quá khứ vàng son hay ẩn lánh trên một vì tinh tú đơn côi, thì chàng thi sĩ ấy người có đôi mắt biếc luôn mở to nhìn cuộc đời với xiết bao say mê, quyến luyến, lại khát khao được hoá thân thành cây "xanh mãi mãi ở vườn trần, chân hoá rễ để hút mùa dưới đất", được mãi mãi ôm cõi đời này trong vòng tay say say đắm. Đôi mắt "xanh non", đôi mắt "biết rờn" đã phát hiện ra cả một thiên đường nơi mặt đất này, nơi mà thi sĩ khác như Thế Lữ, Chế Lan Viên,... dường như có lúc chỉ muốn lẩn tránh thật xa. Sáng tác thơ, Xuân Diệu chỉ muốn thả những mảnh hồn sôi nổi, tinh tế của mình tới mọi tâm hồn bạn bè, ở một phương trời, của hôm nay và vĩnh viễn mai sau với một tấm lòng "khát khao giao cảm với đời". Tư tưởng nhân văn độc đáo, khoẻ khoắn ấy chẳng phải là cải gốc sáng của chùm cầu vồng nghệ thuật lung linh những vần thơ Xuân Diệu, chẳng phải là cái ánh sáng của những viên ngọc trai tròn trặn đấy sao? Lòng "khát khao giao cảm với đời" đã giúp Xuân Diệu viết
lên những vần thơ tình yêu đính thực, với trần thế rất đỗi cao đẹp để Xuân Diệu lưu lại dấu ấn với thời gian như một "ông hoàng của thơ tình" - danh hiệu mà biết bao người ao ước. Nhưng Xuân Diệu có thể nào đứng trong lòng ta với những vần thơ ấy, nếu tư tưởng của ông là một hình thái chết, "nằm thẳng đơ trên trang giấy?" Không, tư tưởng ấy còn lại mãi với cõi đời này bởi nó đã được "rung lên ở những cung bậc của tình cảm" , là thứ ngọc kết tinh từ toàn bộ con người và tâm hồn, thế giới tình cảm của thi sĩ Xuân Diệu. Ngay tên gọi của tư tưởng nghệ thuật ấy đã hàm chứa biết bao tình cảm. Nó bẳt nguồn từ nhịp rung mãnh liệt của con tim Xuân Diệu - trái tim muốn đậpmãi với cõi đời, cõi người này. Đó là khát khao cháy bỏng, là say đắm khôn cùng hay là toàn bộ con người tinh thần của nghệ sĩ? Chỉ biết rằng, mỗi vần thơ Xuân Diệu như được chắt ra từ lòng yêu đời, yêu cuộc sống nồng nhiệt. Tư tưởng nhân văn độc đáo ấy nào phải do Xuân Diệu phát minh ra, rồi dùng tài năng của mình, phủ đắp xương thịt lên hồn cốt ấy. Không, ngọn nguồn sâu xa của tư tưởng cao đẹp ấy chính là tình cảm, nỗi sợ cô đơn. Nỗi sợ hãi đã ám ảnh, đã bám riết tâm hồn cậu bé Xuân Diệu - con người từ thuở nhỏ đã phải sống trong sự ghẻ lạnh của gia đình. Tâm hồn non thơ thiếu văng tâm hồn của mẹ, bởi thế luôn khát khao đồng cảm, khát khao được mọi người tri âm. Xuân Diệu tìm đến thơ như một lẽ tự nhiên không thể nào khác được bởi với thơ ông, thơ là chiếc cầu linh diệu nhất nối trái tim đến với những trái tim. Nhà thơ lúc nào cũng khát khao cháy bỏng được làm phấn thông vàng bay khắp cõi đất này, tràn ngập cả không gian. Nỗi sợ cô đơn vây phủ lên mọi bày thơ, trong hạnh phúc tột cùng đã thấp thoáng những dự cảm lo âu. "Lòng ta trống lắm, lòng ta lạnh Như túp nhà không bốn vắch xiêu" Tôi luôn tự hỏi, nếu những vần thơ Xuân Diệu không thấm đẫm một bầu cảm xúc, một niềm yêu đời mãnh liệt thì những vần thơ của ôngn có thể rung động lòng người đến thế? Những vần thơ như kết tinh từ xúc cảm đắm say đến cuồng nhiệt ngây ngất của người nghệ sĩ đối với cuộc sống này. Nó giúp ông khám phá những hương mật ngọt ngào của thiên nhiên trần thế: " Của ong bướm này đây tuần tháng mậ, Này đây hoa của đồng nội xanh rì, Này đây là của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc tình si." Một điệp ngữ "này đây" như một đợt sóng trào dâng của niềm yêu đời, nhà thơ như muốn chỉ cho mỗi người thấy cuộc sống này đáng yêu như vậy đấy. Vậy bạn ơi hãy sống hết mình với đời, với người bằng tất cả tâm hồn mình và hưởng thụ cuộc sống đẹp đẽ này. Cần gì phải đi đâu, phải thoát lên tiên hay mơ màng tới nơi phương xa xứ lại. Thiên đường là đây, là cõi đất mến yêu, gần gũi này.

Xúc cảm đâu muốn nguôi yêu, lúc nào nó cũng muốn cựa quậy trên trang giấy để bứt phá, đạp tung những khuôn khổ bó buộc của câu chữ khiến thành trì chữ nghĩa phải lung lay: "Ta muốn ôm Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếch choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi, Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào người!" Các động từ mạnh "riếc", "ôm", "say","thâu" như muốn xô lệch cả con chữ. Cái áo xưa giờ đã quá chật hẹp không đựng nổi bầu cảm xúc tười rói, luôn phập phồng sự sống. Cảm xúc tràn ra ngoài câu chữ, thấm vào lòng người đọc, thổi bùng lên ngọn lửa của lòng yêu sống. Nó khiến ta không thể yên. Thơ hay tiếng lòng của nghệ sỹ đã đốt thành thơ? Bao xúc cảm, men say ngất ngây tột đỉnh đã dồn lại để bật lên một câu thơ độc đáo vào bậc nhất trong thi đàn Việt Nam: "Hỡi Xuân Hồng ta muốn cắn vào người!" Có lẽ nhiều người còn nhắc tới tính hiện đại của câu thơi đấy. Còn tôi, tôi chỉ muốn nói rằng câu thơ ấy là tiếng vang thốt ra từ bầu tâm huyết cua Xuân Diệu đối với cõi đời này. Tư tưởng tạo nên tầm vóc của nhà văn. Tình cảm thổi hồn cho tư tưởng ấy sống dậy thành sinh thể. Có thể nào phủ nhận mỗi quan hệ máu thịt không thể tách rời ấy? Tư tương của Xuân Diệu cũng vậy,nó đã sống trong tình cảm, trong tâm huyết của nhà thơ. Mỗi câu thơ thâm nhập và hồn ta đâu phải là con chữ vô hồn, nó là tất cả cảm xúc của thi nhân khuấy động mãi trong ta, thắp lên trong ta ngọn lửa của niềm ham sống. Mỗi câu, mỗi chữ viết ra đều là máu thịt của nhà văn. Không có bầu cảm xúc ấy, liệu người đọc có thể nhớ mãi câu thơ: "Tháng giêng ngon như một cặp môi gần"- câu thơ viết ra bởi một cảm quan nhân sinh yêu đời, khoẻ khoắn, nồng nhiệt? Không có "lòng khắt khao giao cảm với đời" ấy, liệu có tạo lên một "\Nguyệt ccầm " tuyệt tác, liệu Xuân Diệu có thể lắng nghe được những rung động tinh tế, mơ hồ, hư thoảng trong lòng người và vạn vật để truyền vào những vần thơ ít lời nhiều ý súc tích nhưng đọng lại bao tinh hoa? Tình cảm mãi là ngọn nguồn sâu xa của mọi sáng tạo nghệ thuật chân chính trên cõi đời này. Xuân Diệu đã ví mình như một con chim hoạ my "đến từ núi lạ" ,"ngứa cổ hót chơi" khi gió sớm, lúc trăng khuya. Con chim hoạ mi ấ không mong vì tiếng hót của mình là hoa nở, nhưng nguyện thề rằng, đó phải là tiếng hót thiết tha, nồng nàn đến vỡ cổ, đến độ trào máu. Có lẽ vì tiếng hót đắm say đến nhường ấy nên đã đọng lại trên bầu trời thi ca Việt Nam một cung bậc riêng, càng nghe càng lảnh lót, vang ngân. Vâng,toàn bộ sức sống của hồn thơ Xuân Diệu là ở đấy chăng? Là con người đã biết hát lên bằng tất cả những rung cảm sâu lắng mãnh liệt của mình niềm "khát khao giao cảm với đời" , trái tim đấy cao hơn nhà thơ, cao hơn nhà nghệ sĩ.

Đã có một thời người ta quá đề cao vai trò tư tưởng của nhà văn. Điều đó dẫn đến một thực trạng đáng buồn là văn chương cơ hồ trở thành triết học, luận thuyết giáo điều, rơi vào nguy cơ mất dần vẻ đẹp đích thực của nó. Chúng ta không thể phủ nhận vai trò to lớn của tư tưởng nghệ thuật. Tuy nhiên cũng không vì thế mà lãng quên đặc trưng của văn chương nghệ thuật, khiến văn chương đúng là văn chương, là tình cảm: văn học phải được gửi vào xúc cảm, sống trong tình cảm. Đó là bài học đối với mọi nghệ sĩ chân chính trong sáng tạo nghệ thuật. Đã có không ít người than thở về sự bạc bẽo của nghề văn. Theo tôi, sự bạc bẽo của văn chương nếu có là ở đấy chăng? Nghệ thuật không dung nạp những tác phẩm chỉ là cái loa phát ngôn cho tư tưởng của nhà văn. Và vì thế, ý kiến của Nguyễn Khải là lời tâm niệm của những ai quyết thuỷ chung với văn chương nghệ thuật.

Bùi Việt Lâm Trường THPT chuyên Hùng Vương - Bài đạt giải nhất
Nghề văn phải là nghề sáng tạo. Mà tôi cho rắng sáng tạo khó khăn nhất, nhưng cũng vinh quang nhất của người nghệ sĩ, là khám phá, phát minh ra một hệ thống tư tưởng của riêng mình. Văn học đâu chấp nhận những sản phẩm nghệ thuật chung chung, quen nhàm, viết ra dưới ánh sáng của một khuôn mẫu tư tưởng nào đó. Nếu thế thì văn chương sẽ tẻ nhạt biết bao! Không, "Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biêt tìm tòi, biết khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa ai có" (Nam Cao)
Trang Dimple
Nghề văn phải là nghề sáng tạo. Mà tôi cho rắng sáng tạo khó khăn nhất, nhưng cũng vinh quang nhất của người nghệ sĩ, là khám phá, phát minh ra một hệ thống tư tưởng của riêng mình. Văn học đâu chấp nhận những sản phẩm nghệ thuật chung chung, quen nhàm, viết ra dưới ánh sáng của một khuôn mẫu tư tưởng nào đó. Nếu thế thì văn chương sẽ tẻ nhạt biết bao! Không, "Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biêt tìm tòi, biết khơi những nguồn chưa ai khơi, và sáng tạo những gì chưa ai có" (Nam Cao). Một khi anh đề xuất được những tư tưởng mang tính khám phá về đời sống, tư tưởng ấy sẽ quyết định đến sự sáng tạo hình thức của tác phẩm. Chưa nói rằng, ở những nhà văn lớn, tư tưởng là yếu tố cốt lõi hình thành nên phong cách nghệ thuật, gương mặt riêng, dấu ấn riêng của nhà văn trong đời sống văn học vốn mênh mông phức tạp, vàng thau lẫn lộn này. Có thể khẳng định rằng, tư tưởng ấy là tố chất của một nhà nghệ sĩ lớn. Tuy nhiên, theo Nguyễn Khải, tư tưởng của nhà văn không phải là tư tưởng "nằm thẳng đơ trên trang giấy", mà là tư tưởng đã được rung lên ở các cung bậc của tình cảm"
Tuyệt
O
Haiz. Mình sợ nhất môn văn. Đọc các bài này thì thấy hay nhưng có phần bị gượng ép để đưa ra cảm xúc.